Lê Hoàng Ngọc Phả

Thứ sáu - 17/07/2020 20:38
Le Hoang Ngoc Pha 2020   0001
Le Hoang Ngoc Pha 2020 0001






PHIÊN ÂM
LÊ HOÀNG NGỌC PHẢ
[1a]
Lê Trừ (Thái Tổ đệ nhị huynh, tôn Hoằng Dụ Vương) - Lê Khang (Lê Trừ quý tử tôn Hiển Công Vương) - Lê Thọ (Lê Khang quý tử, tôn Quang Nghiêm Vương) - Duy Thiệu (Lê Thọ chi tử, tôn Trang Giản Vương) - Duy Khoáng (Thiệu chi tử, tôn Hiếu Tông) - Anh Tông (Hiếu Tông đệ tứ tử) - Thế Tông (Anh Tông đệ ngũ tử) - Kính Tông (Thế Tông thứ tử) - Thần Tông (Kính Tông trưởng tử) - Chân Tông (Thần Tông trưởng tử) - Huyền Tông (Thần Tông đệ nhị tử) - Gia Tông (Thần Tông đệ tam tử) - Hy Tông (Thần Tông đệ tứ tử) - Dụ Tông (Hy Tông trưởng tử) - Hôn Đức Công (Dụ Tông[1] đích tử) - Thuần Tông (Dụ Tông trưởng tử) - Ý Tông (Dụ Tông đệ nhị tử) - Hiển Tông (Thuần Tông trưởng tử) - Duy Vĩ (Hiển Tông thứ tử tôn Hựu Tông) - Chiêu Thống (Hựu Tông trưởng tử).
Thái Tổ (Hiển Tổ[2] quý tử) - Thái Tông (Thái Tổ thứ tử) - Nhân Tông (Thái Tông đệ tam tử) - Thánh Tông (Thái Tông đệ tứ tử) - Hiến Tông (Thánh Tông trưởng tử) - Túc Tông (Hiến Tông đệ tam tử) - Uy Mục (Hiến Tông đệ ngũ tử)[3] - Tương Dực (Đức Tông thứ tử) - [Chiêu Tông];
[Thái Tông] - Kiến Vương (Thánh Tông đệ tam tử, tôn Đức Tông[4]) - Cẩm Giang Vương Sùng (Đức Tông trưởng tử, tôn Minh Tông) - Chiêu Tông (Minh Tông trưởng tử) - Cung Hoàng - Trang Tông (Chiêu Tông trưởng tử) - Trung Tông (Trang Tông tử) - [Anh Tông].
[1b] Trang trắng
[2a]
Triệu Tổ Hối - Tuyên Tổ Đinh: Lê Tòng (sinh tam nữ), Hiển Tổ Khoáng (sinh tam nam, tam nữ);
Lê Khoáng: Lê Học (Hiển Tổ trưởng tử, phong Chiêu Hiếu Vương), Lê Trừ (Hiển Tổ thứ tử, tôn Hoằng Dụ Vương), Thái Tổ (Hiển Tổ quý tử).
Lê Học: Lê Thạch (Lê Học trưởng tử, phong Trung Dũng Vương).
Lê Trừ: Lê Khôi (Trừ trưởng tử), Lê Khiêm (Trừ thứ tử), Lê Khang (tôn Hiển Công Vương);
Lê Khang: Lê Độ (Khang trưởng tử), Lê Thọ (Khang thứ tử, tôn Quang Nghiệp Vương);
Lê Thọ: Duy Thiệu (Thọ trưởng tử, tôn Trang Giản Vương);
Duy Thiệu: Duy Khoáng (Thiệu trưởng tử, tôn Hiếu Tông);
Duy Khoáng: Anh Tông (Hiếu Tông đệ tứ tử), Lê Khiêm (Hiếu Tông trưởng tử), Lê Hoa (đệ nhị tử), Lê Hồng (đệ tam tử), Lang Dương (đệ ngũ tử).
Anh Tông: Thế Tông (Anh Tông đệ ngũ tử); Duy Tùng, Duy Nghạnh, Duy Lựu, Duy Bách (Anh Tông trưởng chi);
Thế Tông: Kính Tông (Thế Tông thứ tử), Đạt Nhượng công (Thế Tông trưởng tử);
Kính Tông: Thần Tông (Kính Tông trưởng tử), Vẫn Lĩnh công (Kính Tông thứ tử), Hán Dương công (quý tử);
Thần Tông: Chân long (Thần Tông trưởng tử), Huyền Tông (đệ nhị tử), Gia Tông (đệ tam tử), Hy Tông (đệ tứ tử);
Hy Tông: Dụ Tông (Hy Tông trưởng tử), Hy Tông thứ chi: Duy Liêu, Duy Tân, Duy Đề, Duy Hựu, Duy Lộc, Duy Phúc, Duy Tào, Duy Phụ, Duy Thiều, Duy Trực, Duy Hựu, Duy Chúc;
Dụ Tông: Hôn Đức công (Dụ Tông đích tử), Thuần Tông (Hy Tông trưởng tử), Ý Tông (đệ thập tử), Dụ Tông thứ chi: Duy thiền, Duy Thụ, Duy Hựu, Duy Hưởng, Duy Chân, Duy Biều, Duy Lưu, Duy Quy, Duy Mật, Duy Tải, Duy Sán;
Hôn Đức công: Hiên (Hôn công trưởng tử), Cơ (phế quy mẫu tính), Duy Dung.
Thuần Tông: Hiển Tông (Thuần Tông trưởng tử), Ý Tông trưởng chi: Duy Áo, Duy Lãm, Duy Trọng, Duy Cơ, Duy Viên, Duy Phùng, Duy Dược, Duy Lưu, Duy Toại, Duy Liêu, Duy Khiển, Duy Đề, Duy Cự, Duy Thiều, Duy Tán, Duy Điềm, Duy Tương, Duy Thị, Duy Hồ, Duy Xưng, Duy Dẫn, Duy Phán, Duy Lệ, Duy Phó, Duy Kịch, Duy Sáng, Duy Chất, Duy Chỉ, Duy Giới, Duy Chuyên, Duy Tiễu, Duy Liệt;
Hiển Tông: trưởng chi: Duy Lưu, Duy Vĩ (tôn vi Hựu Tông), Duy Trình, Duy Trạch, Duy Cẩn, Duy Chuyên, Duy Đế, Duy Trọng, Duy Dược, Duy Trừ, Duy Quân, Duy An, Duy Phùng, Duy Lã, Duy Quyền, Duy Chúng (Duy Hoàn), Duy Lộc, Duy Bút, Duy Lưu, Duy Vũ, Duy Lân, Duy Tấn, Duy Hội, Duy Quán, Quy Thắng, Duy Sào (Duy Sách), Duy Túc, Duy Vạn, Duy Kỷ (/Cơ);
Duy Vĩ: Chiếu Thống (Hựu Tông trưởng tử).
Thái Tổ: Quận Ai vương (Thái Tổ trưởng tử), Thái Tông (Thái Tổ thứ tử);
Thái Tông: Lạng Sơn vương (Thái Tông trưởng tử), Cung vương (Thái Tông đệ nhị tử), Nhân Tông (Thái Tông đệ tam tử), Thánh Tông (Thái Tông đệ tứ tử);
Thánh Tông: Hiến Tông (Thánh Tông trưởng tử);
Hiến Tông: Lê Cẩm (trưởng tử), Túc Tông (Hiến Tông đệ tam tử) - Uy Mục Đế (Hiến Tông đệ nhị tử) 5, Lê Tuyền (đệ tứ tử), Lê Thao (đệ ngũ tử);
Uy Mục - Tương Dực Đế (Đức Tông thứ tử);
Cẩm Giang Vương Sùng (Đức Tông trưởng tử, tôn Minh Tông);
Minh Tông: Chiêu Tông (Minh Tông trưởng tử), Cung Hoàng (Minh Tông thứ tử);
Cung Hoàng [truyền đến] Trang Tông (Chiêu Tông chi tử);
Trang Tông: Trung Tông (Trang Tông tử);
Trang Tông [truyền đến] Anh Tông
[2b]
Hữu khởi tự Cao Hoàng Đế Mậu Thân chính thống chí Cung Hoàng Bính Tuất Mạc tiếm phàm cửu thập cửu (Đăng Dung tiếm tự Đinh Hợi chí Nhâm Thìn lục niên vô hữu bản triều vị hiệu) đãi Trang Tông Quý Tỵ trung hưng, chí Trung Tông Bính Thìn đắc nhị thập tứ niên. Cao Hoàng bản chi truyền thập nhị đế cộng đắc nhất bách nhị thập tam niên, thập tứ đế, thông tính Mậu Thân chí Chiêu Thống Kỷ Hợi cộng nhị thập lục đế, đắc tam bách lục thập ngũ niên. (Kỳ Mạc lục niên bất tính nhập, khởi tự Đinh Hợi chí Quý Tỵ lục thập thất niên, phụ Tây Sơn Nguyễn thị tứ niên. Hữu Tây Sơn khởi Bính Ngọ chí Kỷ Dậu vô hữu bản triều vị hiệu).
Lê Hoàng vạn vạn thế
  1. Nguyên trong văn bản để Uy Mục Đế vào hàng dưới của Túc Tông, nhưng cũng có ý là Túc Tông truyền ngôi đến Uy Mục Đế, chứ không phải Uy Mục là con của Túc Tông.
Ngự chế Ngọc phả ký tự
Trẫm duy, tích giả, Thánh tổ thụ đức hành nghĩa, lũy thế tương thừa, ngật bình cường khấu, toại hữu ngã quốc, hậu thế tạ dĩ thành chi nghiệp, chỉnh [3a] tề chúng trị, khôi phục cố cương, thùy chí lai kim, ô yên du lại. Trẫm dĩ tiền đại thống tự, lũy triều sự tích bất khả nhất nhật vong, thường tập phả hệ, thời cung tỉnh duyệt, cận kiến hương thân cựu lục tham chi án đầu nguyên cảo tính chư biệt bản, vi hữu sai thù đặc ủy gia thần khảo hiệu biên tu yếu tựu hoàn bích, thứ cơ tổ triệu tông bồi chi hậu trạch, thần truyền thánh kế chi hồng du, chương chương nhiên dũ trước. Biên thành tiến lãm ích dĩ kiến sùng cơ gian đại, liệt thánh cạnh trì, cố phi ngẫu nhiên trí chi giả. Trẫm tư thiệu thuật, do khủng phất đãi, hữu hà cảm du dật thức lệ tháo tồn, dĩ nhạ tổ đức. Lễ ký viết: “Tỷ đức ư ngọc”, cái thường trân trọng tư ngôn, ư thị danh chi viết “Ngọcphả”, nhưng mệnh tứ [3b] bảo dĩ vi tự.
Cảnh Hưng tứ thập nhất niên thập nhất nguyệt đông chí nhật.
[4a]
Lê Hoàng ngọc phả tập ký[5]
(tính Lê húy Lợi, Thanh Hóa phủ Lương Sơn huyện Như Áng thôn nhân dã. Kim tức Thanh Hoa xứ Thiệu Thiên phủ Thụy Nguyên huyện Lam Sơn hương).
Hoàng Tằng tổ (húy Hối) hậu truy tôn Triệu Tổ Hoàng Đế, tư tính chất trực, thủ kỷ như ngu, dĩ sư công vi nghiệp, thú Lôi Dương huyện Quần Đội sách nhân Nguyễn Thị (Ngọc Lục[6]), hậu truy tôn Phổ Từ Hoàng Thái Hậu. Triệu Tổ thường du Lam Sơn, kiến quần điểu tường tập sơn hạ, nhược chúng nhân tụ hội chi xứ, viết thử gia xứ dã, toại đồ cư yên (nhất danh Du Sơn, nhất danh Quế Lâm động). Tam niên nhi sản nghiệp thành, tử tôn nhật phồn, nô lệ nhật chúng. Tự thị thế hiệu vi nhất phương quân trưởng, kiến quốc khởi thổ, thực thủy ư thử. Chí thọ chung, tịnh táng Hào Lương thôn chi Lỗi Viên lăng, sinh tử Lê Đinh (tức Tuyên Tổ).
[4b]
Hoàng Tổ (húy Đinh) (Tuyên Tổ), hậu truy tôn Phúc Hoàng Đế, thừa gia kế chí, viễn cận quy tâm, toại hữu chúng chí thiên dư nhân, thú Lôi Dương huyện, Xuân Lan thôn nhân Nguyễn Thị (Ngọc Quách), hậu truy tôn Trinh Từ Hoàng Thái Hậu (nhất tác Hiển Từ). Tuyên Tổ dĩ thập nguyệt nhị thập bát nhật băng, táng Lỗi Viên lăng, hậu dĩ lục nguyệt nhị thập nhật băng, táng Lôi Dương Thủy Chú xã. Sinh nhị nam, trưởng viết Tòng (sinh tam nữ bất hạnh đoản mệnh), thứ viết Khoáng (tức Hiển Tổ Tuyên Tổ, quốc sử tác Hiển Tổ Chiêu Đức Hoàng Đế; Hậu vi Gia Thục Hoàng Thái Hậu).
Hoàng Khảo (húy Khoáng), hậu truy tôn Hiển tổ Trạch Hoàng Đế thú Lôi Dương Thủy Chú nhân Trịnh Thị (Ngọc Thương) hậu truy tôn Hiển Từ Hoàng Thái Hậu. Hiển Tổ năng ái tuất nhân, dam hàm phục kỳ nhân nghĩa, hậu năng cần ưphụ chức, gia đạo nhật xương. Hiển Tổ dĩ thập nguyệt thập thất nhật băng, thiên táng Chiêu Nghi động Phật Hoàng lăng. Hậu dĩ thập nguyệt thập thất nhật băng, táng Chiêu Thị thôn Bạch Thạch lăng (Hiển Tổ sử tác Tuyên Tổ Hiến văn Hoàng Đế, hậu vi Trinh Từ Ý Văn Hoàng Hậu).
[5a]
Sinh tam nam, tam nữ, trưởng viết Học (tảo tuất, hậu truy phong Chiêu Hiếu Vương, tứ nguyệt sơ thập nhật kỵ. Kỳ thê Thận Ý Thái Phi, sinh tử Lê Thạch, thường tòng Thái Tổ chinh phạt, dĩ dũng đột trung phục tiệt, tứ nguyệt kỵ, táng Bái Đô Thượng trang Đống Hôi/Khôi xứ, phong Trung Dũng Vương, lập Hiển Nhân điện ư Bái Thượng, tự chi Mục Thanh điện, Tây Ương cung diệc giai phụng sự), thứ viết Trừ, quý viết Lợi (tức Thái Tổ dã). Trưởng nữ Ngọc Vị, thứ nữ Ngọc Triển, quý Ngọc Biền.
Sơ Thái Tổ vị sinh chi tiền, tổ mẫu Trịnh Thị Ngọc Dung, cư Lôi Dương Thủy Chú, Trần Phế Đế Xương Phù thất niên Quý Hợi nhị nguyệt sơ thất chi dạ, hữu hổ nhập kỳ gia, đà mẫu nhập sơn Đốn/Đún (?) Quải xứ (Quải nhất tác Nga), hựu kiến nhất hổ hắc sắc[7] ban văn, dĩ tiên tại thử, ngọa khởi bất an. Mẫu kiến vấn chi, viết: “Thị sản nan hồ?”. Kỳ hổ hạm chi, mẫu tức huy tiền tổ, sử dẫn đạo thái dược, thủ thủy điều nhi ẩm chi, tu du ná hổ thoát hạ tử thai nhưng dĩ dược biến tẩy kỳ thân, hổ tức an ngoại, tiền hổ tương mẫu trì hoàn kỳ gia, hậu dạ hốt kiến hổ ấn [5b] phóng tại đình ngoại, tri kỳ hổ báo tạc dạ chi ân. Xương Phù cửu niên Ất Sửu bát nguyệt sơ lục Tý thời sinh Đế vu Thủy Chú điện thôn. Tiên thị y xã chi Thượng thôn đia danh Ma Cả, thảo mộc uất mậu, hữu quế thụ phả cao đại kiệt xuất chúng thụ (Lam Sơn thực lục tải tại Du Sơn Như Áng Hậu thôn) hữu hắc hổ cư thử thập niên, dữ nhân tương thân, vị thường phạm vật. Đế sinh nhi kỳ hổ bất kiến, nhân hàm dị yên. Đế chi sinh dã, xích quang mãn thất, hinh hương mãn lý, hốt hữu nhũ mẫu tứ nhân, hầu thị mộc dục, phù Đế thượng sàng, nga khoảnh bất kiến.
Đế thể anh vĩ, kỳ nhãn quan, kỳ khẩu đại, kỳ chuẩn long, thân trường lục xích, tả kiên hữu thất thập hắc tử, long hành hổ bộ, hào mao biến thân, thanh như hồng chung, tọa như hổ cứ, thức giả tri kỳ chí qúy. Cập trưởng thông minh dũng trí, quá xuất tầm thường, vi Khả Ích[8] Phụ đạo (cổ vân Phụ đạo Khả Ích Hậu Chiêu Lam Sơn). Nhâm Thìn niên chính nguyệt sơ thập nhật, [6a] Đế niên nhị thập bát, sử nhân canh ư Chiêu Lăng động Phật Hoàng xứ, kiến nhất lão tăng, trước bạch y do Đức Trai thôn xuất cổ hề thán viết: “Quý tai thử địa, vô nhân khả hứa! ”
Canh nhân trì quy cáo Đế, Đế truy cầu chi. Chí Cổ Lôi huyện (kim Lôi Dương) Quần Đội sách, kiến nhất trúc giản đề viết “Đại đức thụ mệnh, tuế trung tứ thập, sổ chỉ dĩ định, tích tai vị cập”.
Đế thậm hỷ, hựu cấp truy chi, thời hữu hoàng long phú Đế, hốt kiến lão tăng ngữ Đế viết: “Bộc tính Trịnh hiệu Bạch Thạch sơn tăng, tự Ai Lao nhi lai (tại Ai Lao quốc Dương Sơn Cảnh Huống tự). Kim kiến thiên tử khí tượng thù thường, tất năng thành đại nghiệp”.
Đế quỵ viết:
“Đệ tử địa mạch quý tiện nhược hà? Nguyện minh sư cáo! ”
Tăng viết:
“Chiêu Nghi động Phật Hoàng xứ hữu điền nhất sở bán sào, hình như phương ấn, tọa Khôn hướng Cấn. Tả hữu Thái Thất PỀ Chí Linh sơn (tại Giao Lão sách) nội hữu Tiên Bạn thổ nhạc, dĩ Chiêu Sơn vi án (tại An Khoái xã), tiền Long Sơn nội hữu Long Hồ, nãi [6b] loa tràng chi địa. Hữu thủy nhiễu hổ ngoại sơn xuyên châu, nam nhân quý bất khả ngôn, nữ tử hận kỳ thất tiết, hậu khủng tử tôn phân cư, nhược hữu minh sư năng cải táng, khả tái trung hưng ngũ bách niên”.
Đế nãi tương Hoàng Khảo táng chi, nội thâm tam xích ngũ thốn, quan dụng bình bát bạch sắc, thời quật hạ hựu đắc Phật tượng thủy bình khám, tương hồi Du Sơn phụng sự. Thiên minh hồi chí Dao Xá Hạ thôn, đại tác lôi vũ, thiên địa hối minh. tăng hốt bất kiến. Trần Thiên Khánh bát niên Giáp Ngọ. thời Đế niên tam thập, Đế Hậu quán Lôi Dương Bái Đê trang nhân, Trịnh Thị Ngọc Lữ/Lã. tại Như Áng thôn gia cư, chính nguyệt sơ lục nhật tảo thời. xuất giới viên. kiến cư nhân tích trường tam xích khoát nhị xích. kiến hồng đồng nhất khối, thượng hữu trụ. Hậu kinh hô Đế xuất. kiến bảo ấn. diện trường thất thốn bát phân, khoát ngũ thốn bát phân. hậu nhất thốn, thượng [7a] trụ cao ngũ thốn tam phân. cự nhất thốn tứ phân, thượng kiên tả biên hữu “Thuận Thiên Lê Lợi ” tự. hữu linh phù. hữu biên hữu thần chú viết:
“Thượng Đế sắc mệnh.
Bảo ấn thiên đình.
Giáng chi Nam Việt.
Hách hách linh linh.
Chư thiên sơn nhạc.
Khâm thụ lệnh hành.
Cấp cấp như luật lệnh”.
Đế âm tri thiên chi mênh. ẩn nặc bất ngôn (Lam Sơn thử sự. tại đắc bảo lục chi hậu).
[7b]
Thiên bảo ấn:
“SắcMệnh Chi Bảo”
Giá bảo ấn. chí Thuận Thiên tam niên Canh Tuất, Đế thủy chú tạo kim bảo ấn. trọng tam dật ngũ lượng y thiên bảo dạng, phàm chư khâm thụ chế sắc mệnh. giai dụng chi. Kỳ thiên bảo ấn trí kim hàm. Tư sở kiến mô dạng bảo ấn. thủy chú vi dị, cô lưỡng tồn chi dĩ bị tham khảo.
[8a]
“SacMệnh Chi Bảo”
“SacMệnh Chi Bảo”
Ất Mùi niên thập nhất nguyệt sơ thập nhật dạ, hữu Cổ Lôi huyện (kim Lôi Dương) sơn sách nhân Lê Thận, dĩ phao cương vi nghiệp, tại Lam Sơn giang, Ma Viên xứ, dạ kiến thủy đê quang như chúc, chung dạ cương bất đắc ngư, lũ đắc nhất thiết phiến trường trực tam xích, khoát nhị thốn, hậu tam phân, hình như chung dạng (Lam Sơn thực lục tác “nhất xích dư”), thượng thiệt hữu linh phù, hữu thần chú viết:
[8b]
“Thượng Đế sắc mệnh,
Bảo kiếm uy cường.
Cử chỉ nhất động,
Hỏa chiếu vạn phương.
Sơn băng địa liệt,
Tặc phá thần tàng.
Cấp cấp như luật lệnh”.
Thời Đế niên tam thập nhất tuế, dữ Thận tương hữu. Thích Thận hữu gia tiên kỵ nhật, Đế vãng bái kỵ, ngật kiến ám xứ hữu quang, thân tựu sở kiến thiết phiến. Đế thỉnh Thận, Thận hứa chi. Tương hồi tẩy ma, kiến hữu “Thuận Thiên Lê Lợi ” tự, tàng chi nhất xứ. Bính Thân niên, thời Đế niên tam thập nhị, chính nguyệt thập ngũ nhật Dần thời, xuất ngoại môn, kiến nhất kiếm bính hắc đồng, trường ngũ thốn, khoát nhất thốn ngũ phân, hậu tứ phân, Đế trì bính nhập gia tướng tiền thiệt kiếm, thượng vu trung thiên, ngưỡng diện chúc viết:
“Kim thử quốc xâm chiếm ngã địa, sinh dân đồ thán hỹ. Nhược năng chửng cứu sinh dân, nguyện thiệt bính tương liên như nhất”.
Chúc tất, dĩ kiếm thiệt sáp nhập kiếm bính, uyển như nhất xứ, đả thành bất khả bạt, xuất dạ tắc hữu quang như chúc. Đế tri [9a] kỳ thần vật, tàng chi bất hứa nhân tri.
“Lê Lợi Thuận Thiên”
“Lê Lợi Thuận Thiên”
(có chữ bùa ...)
[9b]
Tiên thị, Hồ Quý Ly soán Trần, Thiên Khánh cửu niên xưng Đại Ngu quốc, lũy khiếm Minh triều cống vật. Mậu Tuất (Đinh Dậu) niên, Minh khiển sử Trương Phụ, Mộc Thạnh đẳng, phân đạo Nam xâm, phu Quý Ly phụ tử Bắc khứ, Lý Bân trấn thủ. Đế tao thời nhiễu loạn, hối tích sơn lâm, tiềm tâm thao lược, duyên lãm trí sĩ, chiêu tập lưu dân. Thời hữu bản huyện Hào Lương thôn nhân Đỗ Phú dữ Đế tranh nhượng, tương tụng ư Minh tướng, khám quan dĩ Đế lý chính, đoán vi trực bạn, Phú vi khúc. [Đỗ] Phú do thử hàm hận, thời Phú dẫn Minh tặc bức Đế. Đế dữ Lê Liễu tẩu chí Lam Sơn giang biên, kiến nhất nữ tử thi, thân trước bạch y kim xuyến, Đế dữ Liễu mai ế chi, chúc: “Dĩ thoát ngã thử nạn, hậu đắc thiên hạ, đương lập miếu tự”. Phong phần ngật, tặc khu ngao chí, Đế dữ Liễu nhập dung thụ huyệt, tắc dĩ thương thích nhập, trúng Liễu tả cổ, Liễu dĩ sa thức chi, sử bất kiến huyết tích, hốt huyệt trung bạch hồ tẩu xuất, [10a] ngao tức trục hồ, tặc bất ý nãi khứ, Đế phương đắc thoát (Hậu định thiên hạ, phong Bạch Y Hoằng Dụ[9] Đại Vương; dung thụ phong vi Hộ Quốc Đại Vương).
Thời Đế cử nghĩa binh, hữu Ai Lao nhân Trịnh Đồ, hùng tượng tứ chích, hoàng kỳ nhất diện, nghinh Đế, kỳ tượng hồng phấn bạch hoa sắc, danh Phi Thiên tượng, hậu phong Đồ vi Thái bảo Dũng quận công (Đồ tá Đế thành công hậu dữ tượng tựu Yên Tử phi khứ, Đế nãi tức thử xứ kiến Thiên Nhật tự[10] tự chi).
Mậu Tuất niên, Đế khởi nghĩa binh Lam Sơn, Đế tam thập tứ, chính nguyệt thập lục nhật, hữu phản thần danh Ái (Nguyệt Ân sách nhân), dữ Phú dẫn Minh tặc quật Chiêu Nghi động Phật Hoàng lăng, tương quỹ hệ ư hậu thuyền, dụ Đế lai hàng. Khước nãi khiển Trịnh Khả (Kim Bôi xã nhân), Lê Bị (Hào Lương thôn nhân), phụ thảo thuyền lưu nhi hạ, chí Dao Xá Thượng thôn tân, Minh tặc thụy thục, thiết thủ linh quỹ nghinh hồi, Đế trọng thưởng nhị nhân. Nghinh tựu chí Phật Hoàng lăng ninh thố y cựu. Ái hựu dẫn Minh tặc tập Đế, phu hoạch gia thuộc, ngã quân vô đấu chí, hữu thủ hạ [10b] Lê Lễ, Vấn, Bí, Xí, Đạp đẳng, tùy Đế độn vu Linh Sơn. Nhị nguyệt tuyệt lương, đãi tặc thoái hồi tức trúc bảo ư Lam Sơn, tán tốt sảo tập. Thời tặc thế phương trương, Đế triệu chư tướng vấn viết:
“Thùy khả thân đại sử đá, tái đồ hậu cử?”
Chư tướng giai bất cảm ứng, độc Lê Lai tự nhậm dịch bảo, dĩ thân đại Đế tức nhập tặc lũy, báo viết:
“Lam Sơn chúa thị ngã”.
Tặc vi nhi sát chi. Tự thị Đế đắc bảo thủ Lam Sơn, súc uy dưỡng nhuệ, phàm thập niên gian, cánh thất thập dư chiến. Mậu Thân niên, thời Đế tứ thập tứ, An Viễn hầu Liễu Thăng lĩnh binh thất vạn lai viện, Đế kích trảm chi, toại bình Ngô tặc. Bản niên nhị nguyệt định cần lao công ư Lũng Nhai, tứ quốc tính cai nhất bách nhị thập nhất nhân, đệ nhất công Lê Vấn đẳng ngũ thập nhị nhân, đệ nhị công Lê Bồ đẳng thất thập nhị nhân, đệ tam công Lê Lễ đẳng cửu thập tứ nhân. Tam nguyệt sơ ngũ nhật, sai Tán quốc công Lê Khôi, Dụ [11a] quận công Lê Văn An đốc các huyện xã thảo thủ thiết lâm mộc, kiến Du Tiên điện, Hoằng Hựu miếu, Chí Kính miếu, Bạch Thạch điện, Hiển Nhân điện, cái ngõa, nhất niên chi nội hoàn thành. Bản niên tứ nguyệt thập nhất nhật (sử vân “thập ngũ”) Tỵ thời, Đế tức vị, mệnh Nguyễn Trãi tác Bình Ngô đại cáo. Khởi nghĩa thập niên (tự Mậu Tuất chí Đinh Mùi), khởi nguyên giả nhất, Thuận Thiên (lục niên), khởi Mậu Thân, dĩ sinh nhật vi Vạn Thọ Thánh tiết, chiếu lệnh giai xưng “Thuận Thiên thừa vận Duệ Văn Anh Vũ Đại Vương”, hiệu “Lam Sơn Động Chủ ” Cil/lh’ik, truy tôn tổ tông thụy hiệu. Ư thị Ai Lao sính lễ[11] thị dịch lai vương, Chiêm Thành Đồ Bàn thê hàng thuật chức. Vu dĩ khai ức vạn niên chi cơ. Y dư hưu tai!
Sơ Đế chi kinh dinh tứ phương, thân kinh bách chiến, sở hữu công giả, chỉ hữu vũ thần Lê Lễ, Lê Sát, Lê Vấn, Lê Ngân, Lê Lý đẳng tam thập ngũ nhân, văn thần Nguyễn Đăng, Nguyễn Trãi, Lê Văn Linh, Lê Quốc Hưng đẳng, phụ [11b] tử chi binh, thiết đột nhị bách, nghĩa sĩ nhị bách, dũng sĩ nhị bách, hùng tượng thập tứ chích, kỳ liễu[12] trọng(?) cập lão liệt phụ vệ thê tử giả tài tam thiên nhân nhi dĩ.
Tân Hợi tứ niên, Minh phong Đế quyền thự An Nam quốc sự (Án Hoàng triều thông khởi Minh khiển sứ phong Đế vi An Nam quốc vương, tự thị triều cống bất tuyệt).
Quý Sửu lục niên, nhuận bát nguyệt nhị thập nhị nhật Mùi thời Đế băng vu Đông Cung chính tẩm điện, tại vị lục niên, thọ tứ thập cửu tuế. Cựu truyền Đế đắc hoạn thũng tật, bất khả nhập quan. Chí cửu nguyệt sơ nhị nhật hỏa hóa vu Cảnh Phúc điện. Thập nhị nguyệt nhị thập tam nhật, táng Lam Sơn Vĩnh Lăng (bao thủ Như Áng, Hướng Dương, Giao Xá đẳng xã, thượng tư Mệnh Sơn, hạ chí Đức Trai[13] giai vi lăng miếu địa). Thượng tôn thụy viết: “Thống Thiên Khai Vận, Thánh Đức Thần Công, Duệ Văn Anh Vũ, Khoan Nhân Dũng Trí, HoằngNghĩa Chí[12a]Minh,
Đại Hiếu Cao Hoàng Đế” ClX/NM,
NơkdyViMÍC, miếu hiệu “Thái Tổ”
Húy Nguyên Long, Thái Tổ thứ tử. Kỳ mẫu Cung Từ Hoàng Thái Hậu Trần Thị Ngọc Trần (sử tác Phạm tính), Lôi Dương Quận Đội nhân (sử tác Quần, thập nguyệt thập bát nhật kỵ). Quý Mão niên thập nhất nguyệt nhị thập nhị nhật (sử tác nhị nhất nhất, hựu tác nhị thập), sinh Đế. Sơ Hậu tòng Thái Tổ nhập Nghệ An chí Nguyên Hưng huyện Triều Khẩu xã, Thái Tổ mộng kiến thần nhân lai cầu thiếp (tục truyền giá vị thần quả tức sở vị Phổ Hộ thần) hộ thiên hạ vấn cung nhân thụ vi thần thiếp, vô nhân sở thụ, duy Hậu tự nguyện, Thái Tổ triếp dĩ Hậu dư chi. Hậu tầm băng, Thái Tổ sử Lê Cố tương táng tại bản xã đại phận. Chí Thịnh Mỹ xã nhật mộ, vị cập độ giang túc y xã xứ, thị dạ trùng nghị phú đôi thổ thành phần cố hồi tấu Đế. Đế mệnh lưu cư thử xứ, hiệu Ngọc [12b] Nhị lăng, cấu Hiển Nhân điện phụng sự.
Sơ Thái Tổ chính phi Trịnh Thị Ngọc Lữ, sinh Thái tử Tư Tề '^, hoang ư tửu sắc, bất kham thừa tự, giáng vi Ai Quận vương (thập nguyệt thập bát nhật kỵ, vô tự), đại cáo thiên hạ, Đế dĩ Thuận Thiên nguyên niên tam nguyệt phong Lương quận công ’CMH, chính nguyệt lập vi Hoàng Thái tử. Quý Sửu niên cửu nguyệt sơ bát nhật Dần thời tức vị, thời phương thập nhất tuế, xưng Quế Lâm Động Chủ (ÍỈ(:CỈI>Ỉ TỀ, dĩ sinh nhật vi Kế Thiên Thánh Tiết (sử vân Vạn Thọ, điệp kiến Thái Tổ sinh nhật). Hậu niên cảu nguyên giả nhị, Thiệu Bình (thất niên) khởi Canh Thân niên, Thiệu Bình nhị niên Ất Mão chính nguyệt sai Hoàng thân Quỳ quốc công Lê Khang, Tán quốc công Lê Khôi, đồng Thừa Hiến nhị ty, đốc thiên hạ các huyện xã thảo thủ thiết lâm điều chuyên ngõa trúc tác Tây Kinh, cập Hậu Tẩm điện ngũ gian dĩ xứ cung nữ phụng sự Sơn lăng. Thập niên chi gian, lâm mộc uất mậu, nãi bãi binh thú. Đinh Tỵ niên, Minh khiển sứ tê kim [13a] ấn phong Đế vi An Nam quốc vương, ấn trọng bách lượng, tồ tượng lạc đà. Nhâm Tuất Thái Bải tam niên, Đế Đông tuần duyệt vũ ư Chí Linh thành. Bát nguyệt sơ tứ nhật, hoàn chí Gia Lâm huyện Lệ Chi viên, đắc ngược tật bạo băng (thời Nguyễn Trai thê Nguyễn Thị Lộ đắc hạnh Đế thông tiêu nhi băng, giai ngôn Thị Lộ thí Đế). Tại vị thập niên, thọ nhị thập tuế, táng Lam Sơn lăng chi tả, viết Hựu Lăng, thượng tôn thụy “Kế Thiên Thể Đạo, Hiển Đức Thánh Công, Kham Minh Văn Tứ, Anh Duệ Minh Triết, Chiêu Hiến Kiến Trung, Văn Hoàng Đế” miếu hiệu “Thái Tông”
Đế sinh tứ nam tứ nữ, trưởng tử Nghi Dân (Thái Bảo nguyên niên, lập vi Thái tử, kỳ mẫu Nguyễn Thị Quý sinh, đắc tội phế vi thứ phụ, Nghi Dân diệc phế vi Lạng Sơn Vương), thứ tử Khắc Xương (phong Cung Hoàng, mẫu Lê Thị Mai), tam Bang Cơ (tức Nhân Tông), quý Tư Thành (tức Thánh Tông); trưởng nữ Ngọc Đường (Nhân Tông đồng mẫu dĩ hạ), thứ Ngọc Hoàn, tam Ngọc Chiếm (Nghi Dân đồng mẫu), quý Ngọc Tiết (Thánh Tông đồng mẫu, Ngộ Thị Ngọc Bính sinh).
[13b]
Húy Bang Cơ, Thái Tông đệ tam tử, kỳ mẫu Tuyên Từ Hoàng Thái Hậu Nguyễn Thị Ngọc Anh, Đông Sơn Bố Vệ nhân (táng bản hương Chiêu Hoa lăng), dĩ Thái Bảo nhị niên, Tân Dậu lục nguyệt sơ cửu nhật Tỵ thời sinh Đế. Nhâm Tuất niên lục nguyệt sơ lục nhật, lập vi Thái Tử. Bát nguyệt thập nhị nhật tức vị, thời phương nhị tuế, nhân thỉnh Thái Hậu thỳ liêm thính chính, tài quyết quốc sự, dĩ sinh nhật vi Hiến Thiên Thánh Thọ tiết. Thập nguyệt Đế thích phục xuyên hoàng bào, ngự chính điện thị triều, cải nguyên giả nhị, Thái Hòa nhị niên khởi Quý Hợi, Diên Ninh thập lục niên khởi Giáp Tý, khiển Bùi Hựu phụng vãng Bắc sứ, lập đồng trụ vi thệ.
Kỷ Mão niên lục nguyệt, Lạng Sơn vương Nghi Dân dữ Phạm Đồn, Phan Ban, Trần Tuấn đẳng xướng loạn tác thê thành tam đạo, thượng Đông Môn thành [14a] nhập cung, Đế dữ Tuyên Từ giai ngộ hại, tại vị thập bát niên, thọ thập cửu tuế, vô tự, cải nguyên Thiên Hưng. Hậu chí Quang Thuận nguyên niên thập nguyệt nhị thập tứ nhật, chiêu hồn táng Lam Sơn chi hữu, viết Mục Lăng (nhất tác Dương Lăng), thượng tôn thụy viết: “Khâm Văn Nhân Hiếu, Tuyên Minh Thông Trí, Tuyên Hoàng Đế”[14] miếu hiệu “Nhân Tông”.
Húy Tư Thành (hựu húy Hạo ỉsS), Thái Tông đệ tứ tử, Nhân Tông chi đệ,
kỳ mẫu Quang Thục Hoàng Thái Hậu Ngô Thị Ngọc Dao, Yên Định, Động Bàng nhân, (tam nguyệt nhị thập lục116 nhật kỵ, táng bản hương, lập Thừa Hoa điện ư Thung thôn phụng sự). Dĩ Thái Bảo tam niên Nhâm Tuất thất nguyệt nhị thập nhật Sửu thời sinh Đế.
Sơ Thái Hậu kỳ tự, mộng chí Thương Đế sở, lệnh nhất tiên đồng giáng vi Hậu tử, đồng bất khẳng hành, Thượng Đế nộ dĩ ngọc hốt kích kỳ ngạch xuất huyết, hậu sinh Đế ngạch thượng hữu ngân tích, như mộng sở kiến. [14b] Đế thiên tư nhật biểu, thần thái anh dị, túc dạ vị thường thích tấu. Thái Bình tam niên, phong Bình Nguyên Vương, Nghi Dân tiếm vị, phong Gia Vương, nhưng kiến Để Nội điện. Canh Thìn niên lục nguyệt thời Đế niên thập cửu, đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt (tứ tính nhị danh) thảo Đồng, Ban, Tuấn đẳng, phế Lệ Đức hầu, Lê Lăng dĩ bạch thụ Nghi Dân bức lệnh tự ải, vãng nghinh Cung Vương nãi Thái Tông chi thứ tử, Vương cố từ, nãi nghinh Đế vu Tây Để. Thị nguyệ sơ bát nhật tức vị vu Tường Quang điện, xưng Nam Thiên Động Chủ rrLNQỉì dĩ sinh nhật vi Sùng Thiên Thánh tiết, cải nguyên giả nhị (Quang Thuận thập nhất niên), khởi Canh Thìn, Hồng Đức (nhị thập bát niên) khởi Canh Dần.
Quang Thuận bát niên, thủy xưng “Hoàng Thượng chế cáo”.
Hồng Đức cửu niên, Mậu Tuất chính nguyệt sơ thất, sai nội thần Văn Khê tử Lê Minh Phụ điều binh ngũ thập dư nhân, tựu Hoàng Lâu sơn, thủ thạch khối chế nhất ngao trạng tự sư tử, trấn thủ [15a] điện môn chi đông, phong vi Thái quốc công. Hựu thủ Cường Cảnh sơn thạch khối chế diệc như chi, trấn thủ điện môn chi tây, phong vi Vũ quốc công. [15]
Hồng Đức nhị thập bát niên, thời Trường Lạc Hoàng Hậu cửu u tại biệt cung, chí thị Đế hữu tật đại tiệm, thủy đắc thị tật, âm dĩ độc dược môn thương xứ, Đế bệnh kịch. Đinh Tỵ niên chính nguyệt tam thập nhật Thìn thời, Đế băng vu Bảo Quang cung. Tại vị tam thập bát niên, thọ ngũ thập lục tuế, táng Lam Sơn Vĩnh Lăng chi tả, viết Chiêu Lăng. Thượng tôn thụy viết: “Sùng Thiên Quảng Vân, Cao Minh Quang Chính, Chí Đức Đại Công, Thánh Văn Thần Vũ, Đạt Hiếu Thuần Hoàng Đế”
miếu hiệu “Thánh Tông”.
Đế sinh thập tứ nam, nhị thập nữ: trưởng tử Lê Sanh/Tranh/Trành[16] (tức Hiến Tông), thứ Lương Vương Thuyên, tam Tống Vương Tòng, tứ Đường Vương Cảo, ngũ Kiến Vương Tân (phong Đức Tông Kiến Hoàng Đế, sinh Cẩm Giang Vương Sùng, Lê Khanh phong Thanh Lượng công, quý tử Lê Tương phong Giản Tu công, thị vi Tương Dực Đế Sùng sinh trưởng tử Chiêu Tông, thứ tử Cung Hoàng Đế), [15b] lục Phúc Vương Tranh, thất Diễn Vương Thông, bát Quảng Vương Tảo, cửu Lâm Vương Tương, thập Ứng Vương Chiêu, thập nhất Nghĩa Vương Cảnh, thập nhị Trấn Vương Kinh, thập tam Triệu Vương Thuân, quý Kinh Vương Kiện/Kiến; trưởng nữ Gia Thục Công chúa, thứ Ý Đức, tam Đoan Hoa, tứ Chiêu Huy, ngũ Thiều Dương, lục Quỳnh Phương, thất Bảo Thanh, bát Dương Xuân, cửu Mãn Đường, thập Thao Chi, thập nhất Nhị Vân, thập nhị Cẩm Vinh, thập tam Giáng Xuân, thập tứ Cảnh Bình, thập ngũ Đoan Hòa, thập lục Kỉnh Thuận, thập thất Diễm Trai, thập bát Trang Thạc,
thập cửu Ngọc Bôi, nhị thập Ngọc Đoan.[17]
Húy Sanh/Tranh/Trành (hựu húy Huy), Thánh Tông trưởng tử, kỳ mẫu Trường Huy Gia Từ Hoàng Thái Hậu Nguyễn Thị Ngọc Huyên (sử tác “Hằng”) (Thái úy Trinh quốc công Nguyễn Đức Trung chi nữ tử), Tống Sơn Miêu Ngoại trang. Dĩ Quang Thuận nhị niên, Tân Tỵ bát nguyệt sơ thập nhật, mộng hoàng long nhập sở cư, thiếu khoảnh sinh. [16a] Tam niên thập nhị nguyệt sơ tứ nhật, lập vi Hoàng Thái tử. Hồng Đức nhị thập bát niên, Đinh Tỵ nhị nguyệt sơ nhất nhật (sử tác “sơ lục Mậu Dần”) Ngọ thời tức vị, xưng Thượng Dương Động Chủ ÍNNdN dĩ sinh nhật vi Thiên Thọ Thánh tiết. Hậu niên cải nguyên giả nhất, Cảnh Thống (thất niên) khởi Mậu Ngọ. Giáp Tý niên ngũ nguyệt nhị thập tứ nhật Đế băng, tại vị bát niên, thọ tứ thập tứ, táng Lam Sơn[18], thượng tôn thụy viết: “Thể Thiên Ngưng Đạo, Mậu Đức Chí Nhân, Chiêu Văn Thiệu Vũ, Tuyên Triết Khâm Thánh, Chương Hiếu Duệ Hoàng
Đế” miếu hiệu “Hiến Tông”.
Đế sinh ngũ nam, thập nữ: trưởng An Vương Cẩm (sử tác “Gian”), thứ Tuấn/Duệ (sử tác Huyên, tức Uy Mục Đế), tam Thuần CỊ[19] (tức Túc Tông), tứ Minh Vương Tuyền (mẫu Bình Lăng nhân), ngũ Ân Vương Thao (sử tác tứ Thông Vương Dung, ngũ Minh Vương Trị, sử tác lục nam, lục Ân Vương Dưỡng), nữ vô kỷ danh[20].
Húy Thuần ( G (hựu húy Thuần dỊ, nhất tác Dung SỄ), Hiến Tông đệ tam tử, kỳ mẫu Trang Thuận Hoàng Thái Hậu Lê Thị Ngọc Hoàn (sử vân Nguyễn tính), Thiên Thi Bình Lăng nhân (nhất tác Dao Xá nhân, ngũ nguyệt thập ngũ nhật kỵ). Dĩ Hồng Đức thập cửu niên bát nguyệt sinh Đế. Cảnh Thống nhị niên tam nguyệt lập vi Thái Thái tử[21]. Giáp Tý niên lục nguyệt sơ nhị nhật (sử vân sơ lục), tức vị vu Hoàng Cực điện, cải nguyên giả nhất Trinh Thái (nguyên niên) khởi Giáp Tý, dĩ sinh nhật vi Thiên Minh Thánh tiết. Bản niên thập nhị nguyệt sơ bát nhật, Đế băng, tại vị thất nguyệt, thọ thập thất tuế, táng Lam Sơn Chiêu Lăng gò, Cánh Diều xứ, thượng tôn thụy viết: “Chiêu Nghĩa Hiển Cung, Uyên Mặc Thuần Hiếu Hoàng Đế”[22] H'nỤẻ
miếu hiệu “Túc Tông”.
Húy Tuấn ($ + ^) (hựu húy Huyên SẼ), Hiến Tông đệ tam tử[23], Túc Tông thứ huynh, kỳ mẫu Chiêu nhân Hoàng Ý Hoàng Thái Hậu Nguyễn Thị Ngọc Cẩn ((MC, [17a] Đông Ngàn Phù Chẩn nhân, dĩ Hồng Đức thập cửu niên ngũ nguyệt sơ ngũ nhật Tý thời sinh Đế. Giáp Tý niên nhị nguyệt thập bát nhật Tỵ thời tức vị, xưng Quỳnh Đô Động Chủ dĩ sinh nhật vi Thiên Khánh Thánh tiết. Hậu
niên cải nguyên giả nhất (Đoan Khánh ngũ niên) khởi Ất Sửu. Sơ Túc Tông băng, Trường Lạc Thái Hậu dĩ Đế tỳ thiếp chi tử, bất dục lập chi, nhị lập Lã Khôi Vương, nội thần Nguyễn Nhữ Vi dữ Đế mẫu ư cấm trung, định mưu lập Đế. Nhữ Vi nãi phúng Thái Hậu xuất nghinh Lã Khôi Vương bế chư thành môn nhi lập.
Thái Hậu kiến đế lập bất duyệt, Đế sử tả hữu mật sát chi Trường Lạc điện. Đế tức vị chi hậu, mỗi dạ dữ cung nhân hàm ẩm vô độ, túy tức sát chi, đa sai kỵ tông thất, sát chư thúc phụ huynh đệ phàm nhị thập lục nhân. Minh khiển sứ tứ Thiên tích, kiến Đế tướng đề viết:
“An Nam tứ bách vận do xương,
Thiên ý như hà giáng Quỷ vương”.
ƯKỷ [17b] Tỵ niên tác cung ư thành ngoại Tây Hồ chi thương, sử thị nữ tam bách nhân dĩ chu sa vi quần, hạ thuyền đấu thủy (tục viết Thuyền Chu/Son), hốt phong vũ bạo tác, ngự thuyền tầm phúc, thất thần kiếm bảo ấn (sử vân “Thánh Tông băng, kỳ thần kiếm bảo ấn đồng thất”), Đế sử quân nhân dĩ mật ly vi kỳ xứ, cúc thủy cầu chi bất đắc. Bản niên thập nhất nguyệt, Trường Lạc Thái Hậu chi tộc Nguyễn Văn Lang suất Thanh Hoa nhân cử binh Tây Đô thành phạm Thần Phù hải khẩu. Thời Tu Giản công Oanh tại ngục trung, lộ thủ giả đắc thoát, độn nhập Tây Đô. Văn Lang phụng vi Minh Chủ, dân binh trực để Đông Đô sát Đế. Cẩm Giang Vương
cập đệ Mông, Quyên giai ngộ hại. Oanh quân bức thành, Đế bại tẩu hoạch chi. Bản niên thập nhị nguyệt sơ nhị nhật, Đế ẩm đam/chậm tự tận, tại vị lục niên, thọ nhị thập nhị tuế, táng Phù Chẩn An Lăng. Giản Tu công đồng vị, giáng vi Man Lệ công. Quang Thiệu nhị niên, [18a] truy tôn Uy Mục Đế.
Húy Oanh ỈỆ[25] (hựu húy Trừu J). Sơ Thánh Tông đệ ngũ tử, Kiến Tân Vương (truy tôn Đức Tông Kiến Hoàng Đế) sinh trưởng tử Sùng (phong Cẩm Giang Vương, hậu thụy Trang Định Đại Vương, truy tôn Minh Tông Triết Hoàng Đế), thứ tử Khanh (phong Thanh Lượng công, sử tác Tĩnh), quý tức Đế dã. Kỳ mẫu Huy Từ Trang Huệ Kiến Hoàng Thái Hậu Trịnh Thị Ngọc Tuyên ĩễ (táng Ngự Thiên Mỹ Xá xã) Lôi Dương Thủy Chú nhân, dĩ Hồng Đức thập lục niên lục nguyệt nhị thập ngũ nhật sinh Đế, Hiến Tông thời phong Giản Tu công, hậu cử binh thí Uy Mục Đế. Đoan Khánh ngũ niên Kỷ Tỵ thập nhị nguyệt sơ tam nhật tức vị, xưng Nhân Hải Động Chủ 'ÍXỈệỊ^SỀ., dĩ sinh nhật vi Thiên Bảo Thánh tiết, cải nguyên giả nhất Hồng Thuận bát niên khởi Kỷ Tỵ. Đế sát tông thất phàm thập ngũ nhân, Mục Đế cung nhân cập tiền triều cung nhân [18b] giai chưng loạn chi. Minh sứ Phan Nghĩa Tăng lai, kiến Đế tướng đề viết: “Mạo mỹ nhi thân khuynh, tính háo dâm nãi Trư vương dã, tử bất cửu hỹ ”.
Bính Tý niên, Nguyên quận công Duy Sản sổ ngỗ chỉ bị trượng, nãi mưu phế lập. Tứ nguyệt sơ lục nhật dạ tam canh, tương Kim Ngô vệ sĩ tam thiên nhân, nhập Bắc Thần môn, Đế văn loạn, xuất hạnh Bảo Khánh môn ngoại, thất nhật thời Đế gian hành xuất Chu Tước trì, Sản sử nhân thích sát chi. Tại vị bát niên, thọ nhị thập tứ, táng Ngự Thiên Mỹ Xá xã Nguyên Lăng (kim hữu Quang Hiếu điện phụng sự), giáng Linh Ẩn vương. Quang Thiệu nhị niên, truy tôn Tương Dực Đế.
Húy Y27 (hựu húy Huệ ữS), Cẩm Giang vương Sùng trưởng tử, kỳ mẫu Đoan Mục Hoàng Thái Hậu Lê Thị Ngọc Loan (sử vân Trịnh Thị), Thanh Trì Vĩnh [19a] Trung nhân (sử tác Thanh Đàm Phi Cảo nhân), dĩ Đoan Khánh nhị niên Bính Dần thập nguyệt sơ tứ nhật sinh Đế. Sản ký thí Tương Dực, nãi nghinh nhi lập chi. Bính Tý tứ nguyệt nhị thập nhật Thìn thời tức vị, niên phương thập tứ (sử tác thập nhất), cải nguyên giả nhất, Quang Thiệu bát niên khởi Bính Tý, dĩ sinh nhật vi Nghi Thiên Thánh tiết. Thời Nghi quốc công Văn Lang chi tử An Hòa hầu Hoằng Dụ thảo tặc Trần Cảo ư Bồ Đề, văn Sản thí nghịch, nãi độ hà thiêu Kinh thành, Sản nghinh [26] Đế hồi Thanh Hoa Tây Đô thành. Cảo hãm kinh thành, Hoằng Dụ tẩu hàng, Đế mệnh Duy Sản, Hoằng Dụ, Trịnh Tuy tiến binh, Cảo tẩu Lạng Sơn, Thái Nguyên. Đế hồi kinh, mệnh Sản thảo Cảo, vi Cảo sở sát. Cảo dẫn binh đáo Bồ Đề, Đế mệnh Trần Chân kích đại phá chi, Cảo thoán vu Lạng Nguyên nhi tử. Hoằng Dụ dữ Trịnh Tuy hữu khích, cử binh công Tuy ư Kinh thành, Tuy tẩu nhập Thanh Hoa, Chân dĩHoằng Dụ trục Tuy, nãi công Hoằng Dụ, độn [19b] Thanh Hoa, Chân ký trục Hoằng Dụ, chuyên bỉnh triều quyền. Mậu Dần niên, Đế nãi triệu Chân nhập cấm trung, chấp nhi trảm chi. Kỳ đệ tử Hoàng Duy Nhạc, Nguyễn Kính, Nguyễn Áng đẳng văn chi, cử binh phạm Kinh thành, Đế dạ hạnh Bồ Đề dĩ tỵ chi, mệnh triệu Mạc Đăng Dung yết Đế Bảo Châu, mệnh đề Thủy bộ chư doanh thảo tặc trọng sự.
Kỷ Mão niên cửu nguyệt nhị thập nhật, Đế hoàn kinh. Tân Tỵ niên phong Đăng Dung vi Nhân quốc công Tiết chế thập tam đạo thủy bộ chư doanh thảo tặc. Đăng Dung uy quyền nhật trọng, bộ hành phượng cái tiêu kim, thủy hành long dẫn lãm, xuất nhập cung cấm, vô sở kỵ đạn.
Nhâm Tý niên thất nguyệt nhị thập thất nhật dạ nhị canh, Đế xuất Tây Minh Ma Nghĩa huyện, đăng Mộng sơn[27]. Bát nguyệt Đăng Dung lập đệ Xuân tức vị, thị vi Thống Nguyên Đế. Sơ thập nhật, Nguyên Đế hạnh Hải Dương Gia Phúc huyện Hồng Thị tác hành điện vu huyện trung. Thập nhất nhật, Quang Thiệu [20a] tự Mộng Sơn hồi kinh. Thập lục nhật ngự Thụy Quang hành điện triều bách quan, Đăng Dung phân thủy bộ chư doanh phạm Đông Hà tân, trực nhập Thụy điện, Đế nãi tỵ xuất, trú vu Nhân Mục. Thị dạ hạnh Từ Liêm Đại Mỗ Trung Quang tự. Cửu nguyệt nhị thập nhật, Quang Thiệu tái dẫn binh hoàn, trú vu Kinh thành chi tây, Thượng Yên Quyết xã tác hành điện dĩ thị triều. Thập nguyệt thập bát nhật, Trịnh Tuy phụ Đế hồi Thanh Hoa. Bản nhật, Nguyên Đế tự Hồng Thị hoàn kinh. Quý Mùi niên, Đăng Dung giáng Quang Thiệu vi Đà Dương vương. Ất Dậu niên, Đăng Dung kích Tuy vu Thanh Hoa nguyên đầu, tiếp đắc Quang Thiệu ư Thanh Đô phủ Lương Chính châu. Bính Tuất niên, thập nhất nguyệt sơ bát nhật (sử tác thập bát), Đăng Dung sử Trung Thành nhân Chẩn Xuyên hầu (sử vân Bái Khê bá Phạm Kim Bảng) mật sát vu Thanh Đàm Vĩnh Hưng. Tại vị thập nhất niên, thọ nhị thập nhất (sử vân nhị thập lục), táng Lam Sơn Nguyễn Xá An Lạc (sử vân Thanh Đàm Vĩnh Hưng, kim Thanh [20b] Trì Mép Voi xứ). Đế sinh tử Duy Ninh (tức Trang Tông).
Húy Xuân ệệ, dữ Chiêu Tông đồng mẫu. Đinh Mão niên thất nguyệt nhị
thập nhị nhật sinh Đế. Nhâm Ngọ niên bát nguyệt sóc tức vị, cải nguyên giả nhất Thống Nguyên (ngũ niên) khởi Nhâm Ngọ, đĩ sinh nhật vi Khâm Thiên Thánh tiết. Đinh Hợi niên, Đăng Dung tại Cổ Trai ẼẾ^, Đế khiển sứ cầu phong Đăng Dung vi An Nam quốc vương. Đăng Dung nhập kinh sử Nghệ An Thiên Lộc Phù Lưu xã Lại bộ Thượng thư Vạn Xuyên bá Phan Đình Tá Vĩnh Lại Tiền Liệt Bảng nhãn
Đông các học sĩ Đạo Xuyên bá Nguyễn Văn Thái ỊONỂ', Vũ Giang Xuân pQ'L/r Lôi Trạng nguyên Hoàng Văn Tán (Nđĩ đẳng thảo chiếu (sử vân Đông các học sĩ Nguyễn Văn Thái thảo chiếu). Thập thất nhật (sử vân thập ngũ) bức Đế thiện vị, Đăng Dung soán lập tiếm xưng Minh Đức nguyên niên, giáng Đế [21a] vi Cung Hoàng.
Bản niên nhuận lục nguyệt thập ngũ nhật sử Đế tự tận, Thái Hậu diệc ngộ hại. Tại vị ngũ niên, thọ nhị thập nhất, táng Ngự Thiên Mỹ Xá Phi Dương Lăng (nhất
tác Cung Tiết lăng, kim hữu Thừa Phó phụng sự). Hậu truy thụy Cung Hoàng Đế. Ngụy Đăng Doanh Đại Chính nguyên niên, sai Mạc Phi Điển đồng ngụy
Hùng Viễn hầu Mạc Công Chính JỊỆý/^M, nội giám ngụy Văn Khê bá Nguyễn Tiến Dụng /CCN//f công phá Lam Sơn hương, phần Tây Kinh điện, sao một hoàng tông công thần, phần kỳ chúc sắc mệnh, nhân nhân tiềm nặc, thôn lý tiêu điều.
Phụ Đăng Doanh (kỷ nguyên Đại Chính Á~ỉỊ:khởi Giáp Dần), Phúc
Hải (kỷ nguyên Quảng Hòa khởi Tân Sửu), ^H/^Phúc Nguyên (khởi nguyên
Vĩnh Định khởi Đinh Mùi), Cảnh Lịch ^^(khởi Mậu Thân).
Húy Ninh ỆS(hựu húy Tuân Ệểj), Chiêu Tông chi tử, kỳ mẫu Gia Khánh Hoàng Thái Hậu Phạm Thị Ngọc Quỳnh Thụy Nguyên Cao Trĩ[21b] sách nhân,
Tân Tỵ niên thập nguyệt thập ngũ nhật Tỵ thời sinh Đế. Thời Đăng Dung tiếm vị, Đế mẫu tỵ cư Nông Cống Hưng Trung Lập sách Lê Lan chi trạch.
Sơ Mạc thủy soán Tống Sơn Gia Miêu trang nhân Nguyễn Hoằng Dụ
Hữu vệ điện tiền tướng quân Thanh Quan hầu Nguyễn Đồ /NẠN suất tử hạnh Ai Lao vương cấp Sầm Châu nhân mã. Đồ súc dưỡng sĩ tốt, chiêu vong nạp bạn, âm cầu Đế trụ chi tử lập chi, đắc Ninh Chiêu Tông chi tử, nghinh nhập Ai Lao. Nhâm Thìn niên nhị nguyệt (sử vân thập nhị) thập bát nhật, tông vị vi Đế, cải nguyên giả nhất Nguyên Hòa (thập lục niên) khởi Nhâm Thìn. Minh niên tôn Đại tướng quân Đồ vi Thượng phụ Thái sư Hưng quốc công, chưởng nội ngoại sự, dữ Ai Loa tương kết tư kỳ tinh binh dĩ đồ tiến thủ. Tam nguyệt thập thất nhật chư quân nghinh cố đô,
  1. Nguyễn Đồ các tài liệu khác đều ghi là Nguyễn Kim.
thập nguyệt thập thất nhật chí Lam Sơn lập sư doanh vu Dao Xá Tiền thôn Du Tiên xứ, hưởng tế Thái miếu, chiêu tập Lam Sơn các [22a]phường thôn, cận tồn Lam Xuyên, Hưng Khánh, Phúc Lâm, Dao Xá đẳng phường phụng sự kinh điện, Đế sắc tứ các phường vi Nội phụng nhuệ dân, tinh tuân cựu lệ mệnh Dao Xá thôn Lê Văn Tích vi Hương quan, Lam Sơn phường Trịnh Văn Ngai Bjz vi Hương lại, tu tả bản hương nhân số điền số cập các huyện xã hộ số nhất như cố điển.
Kỷ Tỵ niên ngũ nguyệt, Mạc khiển hoạn giả ngụy Trung Hậu hầu trá hàng, thỉnh Thái sư ngoại doanh yến ẩm, âm trí độc dược vu Hoàng Qua trung, công thực chi, cập hồi công tâm muộn nhi hoăng, tặng Chiếu Huân[28] Tĩnh công, dĩ kỳ tế Dực quận công Trịnh Kiểm (Vĩnh Phúc Sóc Sơn nhân, Lâu chi tử, Lan chi tôn, chí Thế Tông triều mệnh Nguyễn Hoàng) phong Tiết chế Lượng quốc công, phàm binh quyền phong bái giai đắc tiện nghi tài quyết.
Bính Ngọ niên lập hành tại vu Vạn Lại sách, Lượng quốc công sở hướng khắc tiệp, Ái Châu sảo bình. Mậu Thân niên chính nguyệt nhị thập cửu nhật, Đế băng. Tại vị thập lục niên, thọ tam [22b] thập tứ, táng Lam Sơn Trung Lập sách vu Cảnh Khánh (thời dĩ ngụy Mạc vị bình, vị lập viên lăng), thượng tôn thụy viết: “Hoằng Nhân Dũng Trí, Bố Đức Tạo Mưu, Chiêu Điển Triệu Nghiệp, Thuần Hy Thần Đoán, Lệ Vũ Hành Nghị, Khôi Liệt Kiến Tích, Phục Quốc Phù Tộ, Dụ Hoàng Đế”, miếu hiệu “Trang Tông”. Đế sinh Lê Giản (tức Trung Tông dã).
Húy Giản (hựu húy Huyên BẼ), Trang Tông trưởng tử, kỳ mẫu Trinh Thục Hoàng Thái hậu Lê Thị Ngọc Tông kCp/NG, Lôi Dương, Thủy Chú nhân (nhất vân
Ai Lao nhân, lục nguyệt nhị thập cửu nhật kỵ). Dĩ Mậu Tuất niên thập nhị nguyệt sơ lục nhật Hợi thời sinh đế. Mậu Thân niên thập nhất nguyệt thập tam nhật tức vị vu Vạn Lại sách. Minh niên cải nguyên giả nhất Thuận Bình (bát niên), khởi Kỉ Dậu. Tân Hợi niên Lượng Quốc công tiến bức kinh sư, Nguyên Phúc[29] bôn thành
lưu Mạc Điển cự thủ. Qúy Sửu niên thiên hành tại vu Kinh Trường. Bính Thìn
niên [23a] chính nguyệt nhị thập tứ nhật đế băng, vô tự, tại vị cửu niên, thọ nhị thập tam (sử vân nhị thập nhị). Táng Lam Sơn Nguyễn Xá Dụ Lăng. Lượng Quốc công cầu đắc Thái tổ đệ nhị huynh Lê Trừ chi huyền tôn Duy Bang ư Bố Vệ hương, nghênh nhi lập chi.
Anh Tông Tuấn Hoàng Đế
(Thế Tổ, Thái vương tôn lập, khởi Duy tự bản triều)
Phụ Mậu Hợp (Kỷ nguyên Thuần Phúc khởi Nhâm Tuất Sùng Khánh khởi Bính Dần). Húy Duy Bang sơ Thái Tổ đệ nhị huynh Lê Trừ L^/^(tặng Giám
Quốc công truy tôn Hoằng Dụ vương thập nguyệt nhị thập bát nhật kỵ, lập Hoằng Khánh điện vu Đại Lai sách, phi Lê Thị Ngọc Lăng NK/^, Đại Lai nhân, hậu truy tôn Trinh Cẩn Thái phi). Trừ sinh Khang AỀ (tặng Qùy Quốc công, truy tôn Hiển Công vương, nhị nguyệt sơ nhị nhật kỵ, Phi Lê Thị Ngọc Ái, tôn Thục Ý Thái phi, tứ nguyệt sơ tam nhật kỵ). Khang AỀsinh Thọ (truy tôn Quang Nghiệp vương, thập nhất nguyệt tam thập nhật kỵ. Phi Lê Thị Ngọc Thụy, Kim Lũ nhân, tôn Đoan Thuận Thái phi, cửu nguyệt thập bát nhật kỵ). Thọ ff^sinh Thiệu (truy tôn Trang Giản vương, tứ nguyệt thập cửu nhật kỵ, phi Lê Thị Ngọc Duệ, Nguyễn Xá nhân, truy tôn Kinh Lí Thái phi, thất nguyệt thập thất nhật kỵ). Thiệu sinh Khoáng (sử vân Khoáng phong Đông Lâu bá, truy tôn Hiếu Nhân Tông hoàng đế, thập nguyệt thập lục nhật kỵ, phi Phạm Thị Ngọc Lâu, nhất tác Nguyễn Thị Ngọc Tây, truy tôn Tự Khâm Hoàng Thái hậu). Khoáng ể^sinh Suy Lĩnh hầu ffivM/x, tức đế dã. Niên tam thập nhất vãng thượng lưu đầu hồi tra [23b] chí Thịnh Mỹ NT tân ngộ phong vũ. Thịnh Mỹ xã nhân Nguyễn Thượng thư mộng kiến thiên tử hạnh kỳ gia, minh nhật quả kiến đế. Nhân ngôn vu Lượng Quốc công. Thời Trung Tông băng vô tự, công nãi nghênh hồi Phúc Bồi điện hành tại. Bính Thìn niên thập nhất nguyệt thập nhị nhật Ngọ thời lập vi đế, cải nguyên giả tam: Thiên Hựu nhị niên, khởi Đinh Tị; Chính Trị thập tứ niên, khởi Mậu Ngọ; Hồng Phúc nhất niên, khởi Nhâm Thân; Mậu Thìn niên Thượng tướng Thái sư Trịnh Kiểm hoăng[30], truy tôn Thế Tổ Minh Khang Thái vương trưởng tử Cối (Ề dạ tựu đệ Tùng (N, Tùng Thái tử thứ tử sơ phong Tiết chế công, tiến phong Đô nguyên soái Tổng quốc chính Bình An vương, hậu tôn Thành tổ Triết vương, bách lệnh[31] phụng sự. Tùng dạ bôn Trường An hành tại [] tấu đế di hành tại nhập Vạn Lại sách, binh quyền cứ thủ, Cối suất chúng truy chi lũy chiến bất khắc, nãi hàng vu Mạc. Cảnh Ông Diên nhan ngôn vu đế viết: Tả tướng quân Trịnh Tùng quyền thế nhật thịnh [24a] bệ hạ nan ư, tịnh lập đế dạ hạnh Nghệ An tướng hoàng tử Bách Lựu Ngạnh ịịhi, Tùng câu khứ, Tả tướng quân nãi nghênh đế. Qúy tử Duy Đàm ư Quảng Thi sử Hữu Liêu tiến binh chí Nghệ An thành, đế tị vu giá điền. Liêu nghênh đế dĩ quy Nhâm Thân chính nguyệt nhị thập nhị nhật
hồi chí Nông Cống Đô Xá (Sử vân Lôi Dương), ải[32] sát chi. Tại vị thập thất niên, thọ tứ thập nhị tuế (sử vân tứ thập cửu), táng Đông Sơn Bố Vệ Tịnh Xá thôn Hoa Tung lăng, đế sinh ngũ nam nhất nữ, trưởng Duy Bách kỳ mẫu Lôi Dương tam cung
Lê Thị Khuê, sinh nhất nam nhất nữ. Thứ Duy Lựu (tức dữ lị chủ đồng mẫu).
Tam Duy Ngạnh (kỳ mẫu Nông Cống sách nhân Lê Thị Ngọc Biền); Tứ Duy
Tùng (tức chủ phù); quý Duy Đàm (tức Thế Tông); Nữ tử Ngọc Lễ NK^ễ
(Chủ bản đồng giá Cống Hoàng Đình Phùng).
Thế Tông Nghị Hoàng đế (Thành Tổ Triết vương lập)
[24b] Húy Duy Đàm Anh Tông quý tử, kỳ mẫu Tuy Khương Hoàng Thái
hậu Nguyễn Thị Ngọc Diệm HỀ (sơ phong Minh Phi hậu phong Chiêu Nghi, chí thượng tân thụy Tuy Khánh truy tôn Liên Hoa hoàng thái hậu ngũ nguyệt sơ bát nhật kỵ, táng Hào Lăng trung đoạn) Đông Sơn Bố Vệ nhân. Dĩ chính trị thập niên, Đinh Mão niên thập nhất nguyệt thập nhị nhật sinh đế vu Quảng Thi, Anh Tông viễn hạnh Nghệ An dĩ sơ bất dự tòng, Qúy Dậu niên chính nguyệt sóc Dần thời Tả tướng lập chi tức vị vu Vạn Lại, niên phương thất tuế, dĩ sinh nhật vi thánh tiết, cải nguyên giả nhị: Gia Thái -iriX (lục niên) khởi Qúy Dậu; Quang Hưng (nhị thập nhị niên)
khởi Mậu Dần. Lập hạnh tại vu Vạn Lại sách, lập Nam giao vu y sách lũy môn chi ngoại. Tân Mão niên Tiết chế Trịnh Tráng (hậu tôn Văn tổ Nghị vương) đại phá Mạc binh trực truy Thăng Long, Mậu Hợp khí thành đào tẩu. Nhâm Thìn niên thập nhị nguyệt cầm Mậu Hợp trảm chi. Mạc tôn thất Kính Cung tẩu cứ Văn Lan châu tự lập. Qúy Tỵ niên tứ nguyệt thập lục nhật phó kinh [25a] đăng chính điện. Bính Thân niên Minh triều điệp báo lệnh đế chí điện môn tham yết. Đinh Dậu niên tứ nguyệt đế thân
chí trấn Nam Giao quan dữ Mình tướng tả giang tiếp Sát phó sứ Trần Đôn Lâm Quảng Tây châu phủ quan đại hạnh hội khám tương thân giải y tế nhận Minh nhân vị thực Lê Thái tổ điệt tôn; tấu Minh đế tứ kim ấn, cẩm dung, tông phồn, hoa quyên, sắc phong An Nam quốc Đại đầu mục. Bính Thân niên thất nguyệt tu tạo Thăng Long thành, nội Thái miếu, các đoạn thập thất nhật phụng nghênh Thái Tổ chủ nhập miếu điện. Mậu Tuất niên thập nhị nguyệt, Minh phong đế vi An Nam Đô thống sứ tứ ngân ấn khoản ngọc đế kí cấu vũ vu Thăng Long chi tây nam; tưu[33] kiều chi bắc; cẩm ngọc thiến, hựu kiến vương phủ thụ bách quan, xuất chính lệnh. Kỷ Hợi niên tứ nguyệt nhị thập tứ nhật đế băng tại vị nhị thập thất niên, thọ tam thập tam, táng Đông [25b] Sơn huyện, Đông Sơn xã, Hoa Nhạc lăng. Đế sinh nhị nam tứ nữ. Trưởng Duy Trì (phong Đạt Nhượng công, chính nguyệt kị. Kỳ mẫu Ngọc Sơn Uy Lê
Thị Tuấn); thứ Duy Tân (tức Kính Tông); trưởng nữ Ngọc Phượng IUQ, (Qúy
Mùi mệnh An Định Vệ quốc bá Đình Sở nghi sinh); thứ Ngọc Địch (Giáp Ngọ
mệnh Đôn Lộc Chi Nê Lê Thị Tiên sở sinh); tam Ngọc Đức (Kính Tông mẫu
sinh); quý Ngọc Thơm (Duy Trì đồng mẫu).
Kính Tông Huệ Hoàng đế (Thành Tổ Triết vương tôn lập)
Húy Duy Tân ềỀ^Thế Tông thứ tử, kỳ mẫu Ý Đức Hoàng thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Minh (thập nguyệt thập nhị nhật kỵ, táng Đông Sơn, lập Thuần Mỹ điện phụng sự) Thuần Lộc, Duy Tinh nhân. Dĩ Mậu Tí niên thất nguyệt nhị thập cửu nhật sinh đế. Bình An vương Trịnh Tùng dĩ Thái tử Duy Trì tính bất thông minh nãi lập đế. Kỷ Hợi niên tứ nguyệt nhị thập cửu nhật tức vị, thời phương thập nhị, cải nguyên giả nhị: Thận Đức (nhất niên), khởi Canh TíHoằng Định (nhị thập niên),
khởi thị niên thập nhất nguyệt Thận Đức nguyên niên ngũ nguyệt Thái úy Đoan quốc [26a] công Nguyễn Hoàng mưu cập Bình An vương phương nghị chinh thảo Thái Nguyên tặc Kính Cung[34] Thời Phan Ngạn Văn Khuê tác loạn, Hoàng hỏa
thiêu doanh trại, tiềm hồi Thuận Hóa, xứ nội nhiễu nhương nãi phù Hoàng thượng hồi loan Thanh Hóa hồi kinh đăng chính điện hữu hoàng long chi thụy. Kỷ Mùi niên tam nguyệt Bình An vương chinh Đông tân hồi chí Tam Lăng lộ hữu phục nhuệ thích vương sở thừa tượng, tróc đắc kỳ nhân [...] chi tri đế dữ đệ Trịnh Tùng (tức Vạn Quận công) âm mưu sát vương. Ngũ nguyệt thập nhị nhật bức đế tự ải (hiệu Giản Huy Đế), tại vị nhị thập niên, thọ tam thập nhất tuế, táng Bố Vệ Xá thôn Hoa Man lăng. Đức Long tứ niên truy tôn Kính Tông Hoàng đế. Đế sinh tam nam nhị nữ. Trưởng Duy Kỳ (tức Thần Tông); thứ Duy Hựu ềỀĨỂ' (phong Vân Lĩnh công,
kỳ mẫu Lôi Dương huyện, Lôi Dương xã Dưỡng Lộc thôn Nguyễn Thị Vũ); quý Duy Tá ềỀ/Ề (phong Hán công, kỳ mẫu Thượng Phúc Nhân Hiền Phỉ Thị Vi); trưởng nữ Ngọc Tường k'hr (Thần Tông đồng mẫu); thứ nữ vô ký danh.
[26b]
Thần Tông Uyên Hoàng đế
(Thành tổ Triết vương tôn lập, Văn tổ Huyên vương tôn phù)
Húy Duy Kỳ (hựu húy Đại), Kính Tông trưởng tử, kỳ mẫu Đoan Từ
Hoàng thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trinh, tức Bình An vương thứ nữ (tứ nguyệt nhị thập tứ nhật kỵ, táng Yên Định động, Bàng Sơn động lăng lập Diễm An điện, phụng sự tại Xuân thôn). Dĩ Hoàng Định bát niên Đinh Mùi thập nhất nguyệt thập cửu nhật,
Tý thời sinh đế. Kỷ Mùi niên lục nguyệt sơ nhị nhật tức vị vu Cần Chính lâu, dĩ sinh nhật vi Thọ dương Thánh tiết, cải nguyên giả tam, Vĩnh Tộ (thập nhất niên)
khởi Kỷ Mùi; Long Đức KỀÍỂ (thất niên) khởi Kỷ Tỵ; Dương Hòa (cửu niên)
khởi Ất Hợi, tại vị nhị thập ngũ niên, tốn vị[35] lục niên, phục vị thập tam niên, cải nguyên giả tứ, Khánh Đức (tứ niên) khởi Canh Dần; Thịnh Đức (lục niên)
khởi Qúy Tỵ; Vĩnh Thọ 'K,,'d (ngũ niên) khởi Mậu Tuất; Vạn Khánh (nhất niên),
sơ nhưng hồi Cối vu vương phủ nội lập Bình An vương Thế tử Tráng (sơ phong Nguyên soái Tổng quốc chính Thanh Đô vương truy phong Đại Nguyên soái Tổng quốc chính Thanh Đô vương, truy tôn Văn tổ Huyên vương) chưởng binh quyền dĩ Cối phó chi, thời vương cảm [27a] mạo, Cối soái bản binh nhập phủ nội, bách vương thiên đô vu thành ngoại, túng hỏa thiêu kinh thành. Thế tử Tráng phụng nghênh thánh giá hội bách quan vu Nhân Mục thị, Bình An vương bá vu Thanh Trì Hoàng Mai quán Bạc xứ, dụ Cối nhập thụ dĩ đại quyền, Cối chí tức sát chi. Triết vương hồi chí Thanh Oai huyện Thanh Xuân quán nhi hoăng, thế tử Tráng tử cung quy táng, nhân phù hoàng thượng hồi kinh đạo Kim Bảng, bất xa tựu Thanh Hoa dĩ đồ ninh tập Mạc Kính Khoan cứ thủ Cao Bằng, thừa hư trực chỉ Gia Lâm, Thổ Khối. Bát nguyệt Thanh quốc công Trịnh Tráng tiến kích đại phá chi Kính Khoan độn khử, nãi mệnh phụng nghênh thánh giá ngự tiến kinh thành. Qúy Mùi niên, tốn vị vu Thái tử Duy Hựu, tôn đế vi Thái thượng hoàng, cư Khán Sơn tự. Đế sinh tứ nam, lục nữ, nhị dưỡng tử. Trưởng Duy Hựu ềỀĨỂ' (tức Chân Tông), thứ Duy Vạn Huyền
Tông), tam Duy Cối Hy Tông), [27b] trưởng nữ Ngọc Tình MẠ (giá
Trịnh Nghiễm, kỳ mẫu Thuần Lộc, Hà Thượng Nguyễn Thị Nhân Sinh), thứ Ngọc Hài kKs^ (giá Trịnh Lương, kỳ mẫu Đan Phượng, Hiệp Khánh, Nguyễn Thị Sinh sở
sinh), tam Ngọc Điều LN) (giá Trịnh Miên, sinh tử Tu, kỳ mẫu Đông Ngàn, Phù Chẩn Nguyễn Thị Vĩ sinh), tứ Ngọc Lục (giá Vịnh quận công, sinh tử Khiêm,
kỳ mẫu Thái Bảo Công Hồng chi nữ dã), ngũ Ngọc An (giá Tây vương tôn Vệ
quận công Trịnh Hài, kỳ mẫu Thanh Trì huyện Thịnh Liệt xã Nguyễn Thị Lãng), lục nữ vô ký danh, dưỡng tử uy Lã, Duy Tào.
Chân Tông Thuận hoàng đế (Văn tổ Huyên vương tôn lập)
Húy Duy Hựu )ỀĨỀ, Thần Tông trưởng tử, kỳ mẫu Minh Thục Hoàng thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Bạch (nhất tác chính nguyệt thập thất nhật kỵ táng bản xã, kiến Hoàng Long điện phụng sự), Gia Viễn, Hoàng Sách nhân. Dĩ Tân Mùi niên cửu nguyệt thập cửu nhật sinh đế. Qúy Mùi niên thập nguyệt thập tam nhật thụ thiền, cải nguyên giả nhất: Phúc Thái (thất niên) khởi Qúy Mùi. Thị thời thiên hạ đại nẫm. Phúc Thái tứ niên, Minh sách phong Thái thượng hoàng vi An Nam quốc vương, Kỷ Sửu niên bát nguyệt nhị thập lục nhật, đế băng, vô tự, tại vị [28a] thất niên, thọ nhị thập tuế, táng Bố Vệ, Phú Ngự thôn Hoa Phố lăng. Bản niên thất nguyệt vương ủy thế tử Tây vương Trịnh Tạc, hựu tôn lập Thái Thượng hoàng phục vị.
Thần Tông Uyên Hoàng đế
(Văn Tổ Huyên vương tôn lập, Hoằng Tổ Dương vương tôn phù)
Khánh Đức tam niên, đế hạnh Yên Ninh sắc dụ vương tư kỳ binh mã tượng nhuệ dĩ công Khôi Quách, hựu phong Trịnh Tráng vi An Nam phó Quốc công. Nhâm Thìn niên cửu nguyệt đế dạ cảm thư tật, dụ Tây vương viết (danh Tạc, Văn Tổ trưởng tử, sơ phong Nguyên soái Tổng quốc chính Tây Định vương, tiến phong Nguyên soái Chưởng quốc chính, truy tôn Hoằng Tổ Dương vương), tiền nhân tông tự vị quảng, nghị lập biệt lính nhân Duy Tào vi Thái tử. Tư nhân lự hậu sự bất cảm khinh phó thác tha nhân, Tào ứng phế vi thứ nhân, quy mẫu tính. Duy Vạn niên phương cửu tuế, tiệm dĩ trưởng thành thượng lại vương dực chi, tựu thừa thiên thống nãi mệnh, quần [28b] thần lập vi Hoàng Thái tử, bản niên cửu nguyệt nhị thập nhị nhật đế băng, thọ ngũ thập lục tuế, táng Lôi Dương, Quần Đội, Quận Ngọc lăng.
Huyền Tông Mục Hoàng đế (Hoằng Tổ Dương vương tôn lập)
Húy Duy Vạn, Thần Tông thứ tử, kỳ mẫu Đoan Thuần Hoàng Thái hậu Phạm Thị Ngọc Hậu (lục nguyệt sơ nhị nhật kỵ, lăng táng bản xã) Lôi Dương, Khỏa Nhuệ thượng nhân. Giáp Ngọ niên thập nguyệt nhị thập nhật sinh đế. Nhâm Dần niên thập nhất nguyệt thập nhất nhật tức vị, dĩ sinh nhật vi Đoan minh thánh tiết, cải nguyên giả nhất: Cảnh Trịnh (cửu niên) khởi Nhâm Dần. Giáp Thìn niên nhị nguyệt đế tứ vương dĩ bất bái, bất danh chi thù lễ kỳ nhập triều đặc thiết bài sàng ư bảo điện chi tả. Thập nhị nguyệt Thanh triều khiển sứ dụ tế Thần Tông. Đinh Mùi niên Thanh khiển sứ sách phong đế An Nam quốc vương. Tân Hợi niên thập nguyệt thập ngũ nhật Tỵ [29a] thời đế băng, vô tự, tại vị cửu niên, thọ thập bát tuế, táng Lôi Dương, Khỏa Nhuệ, Qủa Thịnh lăng, kiến Triều Long điện phụng sự, thượng tôn thụy viết: Ý Đạt Nhuệ Thông, Cương Nghị Trung Chính, Ôn Nhu Hòa Lạc, Khâm Minh Văn Tư, Doãn Cung Khắc Nhượng, Mục Hoàng đế. Miếu hiệu Huyền Tông.
Gia Tông Mỹ Hoàng đế
Húy Duy Cối, Thần Tông đệ tam tử, kỳ mẫu Chiêu Nghi Lê Thị Ngọc Hoàn, Thụy Nguyên, Phúc Lộc nhân (táng bản xã). Dĩ Tân Sửu niên tứ nguyệt sơ tứ nhật Hợi thời sinh đế, sơ Thần Tông băng, đế phủ nhị tuế, Tây Vương mệnh chính Trịnh Thị Lung dưỡng vu cung trung, Huyền Tông băng lập chi Tân Hợi niên thập nhất nguyệt thập cửu nhật, tức vị thời niên thập nhất, dĩ sinh nhật vi Thọ dương thánh tiết, cải nguyên giả nhị: Dương Đức (tam niên), khởi Nhâm Tí; Đức Nguyên (tam niên) khởi Giáp Dần [29b] Đinh Tỵ niên tứ nguyệt sơ tam nhật Mùi thời đế băng, vô tự, tại vị ngũ niên, thọ thập ngũ tuế, Lôi Dương Nguyên Phúc Lộc An lăng, kiến Thiên Ninh điện phụng sự, thượng tôn thụy viết: Khoan minh Man đạt Anh quả Huy nhu Khắc nhân vi nghĩa Mỹ Hoàng đế, miếu hiệu Gia Tông.
Hi Tông Chương Hoàng đế
Húy Duy Hợp, Thần Tông quý tử, kỳ mẫu Trịnh Thị Tấn (nhất danh Diễm, Dương Quốc công chi tôn hậu Hầu Vũ chi tử, cư tại ngoại. Tằng tổ tỉ Thái phi tần, quán An Lạc xã, do bị cải giá bất đắc tôn phong, quy táng An Lạc, Hoàng Sinh, lập Vi Đông điện dĩ phụng sự chi), Gia Định, Đông Khối nhân. Dĩ Cảnh Trị nguyên niên Qúy Mão tam nguyệt thập ngũ nhật Mùi thời sinh đế. Sơ Thần Tông chúc Tây Vương viết: Cung nhân Ngọc Tấn hoài phôi phương tứ nguyệt, vị bốc nam nữ, vương bảo hộ chi”. Dĩ đế sinh, thể mạo kì vĩ, cửu tuế vương dục chi cung trung. Ãt Mão niên nhuận [30a] lục nguyệt thập nhị nhật vương thân phù đế tức vị, thời phương thập tuế. Dĩ sinh nhật vi Thiên minh thánh tiết, cải nguyên giả nhị: Vĩnh Trị (ngũ niên) khởi Bính Thìn; Chính Hòa (nhị thập lục niên) khởi Canh Thân. Ãt Dậu niên thiện vị[36] vu Thái tử Duy Đường, tôn đế vi Thái Thượng hoàng. Bính Thân niên tứ nguyệt thập ngũ nhật đế băng, tại vị tam thập nhất niên, thọ ngũ thập tứ tuế, táng Đông Sơn, Phú Lâm lăng. Đế sinh thập ngũ nam, cửu nữ. Trưởng tử Duy Đường (tức Dụ Tông), thứ Duy Liêu, tam Duy Chân, tứ Duy Đề, ngũ Duy Hựu, lục Duy Lộc (kỳ mẫu Thanh Oai huyện Phượng Lịch xã Nguyễn Thị húy Tích), thất Duy Phúc (dữ Duy Lộc đồng mẫu), bát Duy Kính, cửu Duy Phó, thập Duy Triệu, thập nhất Duy Tào (dữ Duy Lộc đồng mẫu), thập nhị Duy Thiệu, thập tam Duy Trực, thập tứ Duy Thạch, thập ngũ Duy Chúc (thứ dĩ hạ giai phong Quận công tước). Trưởng nữ tặng Đệ nhất Thái trưởng Công chúa, thụy Từ Trang, thứ Ngọc Huệ (dữ Lộc đồng mẫu), tam Ngọc Ân, tứ Ngọc Tân, ngũ Ngọc Trục (dữ Lộc đồng mẫu), lục Ngọc Hân (dữ Lộc đồng mẫu), thất Ngọc Lai (dữ Lộc đồng mẫu), bát Ngọc Thuyên, quý Ngọc Kiêm.
[30b]
Dụ Tông Hòa Hoàng đế
(Chiêu Tổ Khang vương tôn lập, Hy Tổ Nhân vương tôn phù)
Húy Duy Đường, Hy tông trưởng tử, kỳ mẫu Ôn Từ Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Đệ (nhuận thập nguyệt sơ nhất nhật sinh, tứ nguyệt thập nhật kỵ lập Xung Quán điện tại bản xã phụng sự) Đông Ngàn Xung Quán nhân. Dĩ Chính Hòa Canh Thân thập nguyệt sơ bát nhật Sửu thời sinh đế. Ất Dậu niên thụ thiền, thời niên nhị thập ngũ nhật dĩ sinh nhật vi Xuân minh thánh tiết, cải nguyên giả nhị, Vĩnh Thịnh (thập lục niên) khởi Ất Dậu, Bảo Thái (thập niên) khởi Canh Tí. Kỷ Dậu niên, thiền vị dữ đích tử Duy Phường, tôn đế vi Thái Thượng hoàng, tại vị nhị thập ngũ niên, Tân Hợi niên chính nguyệt nhị thập nhất nhật đế băng, thọ ngũ thập nhị tuế, táng Đông Sơn Cổ Đô, di táng Lôi Dương Kim Thạch lăng (Long tòng, Bính Đinh chuyển Tốn, Tỵ mạch nhập thủ, hướng Càn Tốn, Kim phân nội bàn, Đinh Tị Đinh Hợi xuyến phùng châm Canh Dần Canh Tuất) đế sinh thập tứ nam thập nhị nữ. Trưởng tử Duy Tường (tức Thuần Tông); thứ Duy Thiền, tam Duy Hoãn (Thuần Tông đồng mẫu), tứ Duy Hựu (mẫu Nghi Xuân, Tiên Bào Nguyễn Thị Đoan), ngũ đích tử Duy Phường (tức Hôn Đức công), lục Duy [31a] Hưởng (du Nhĩ Hà nhược tử, mẫu Thụy Nguyên, Phúc Lộc nhân Lê Thị Dưỡng), thất Duy Chân (kỳ mẫu Thanh Chương, Cộng Hoàng nhân Nguyễn Thị Tín), bát Duy Biểu (Duy Hựu đồng mẫu), cửu Duy Phúc (Duy Hựu đồng mẫu), thập Duy Quy, thập nhất Duy Chấn (tức Ý Tông), thập nhị Duy Mật, thập tam Duy Tái, quý Duy Xán; trưởng tử Ngọc Châu, nhị Ngọc Tuân, tam Ngọc Chử, tứ Ngọc Huệ (Thuần Tông đồng mẫu), ngũ Ngọc Đào, lục Ngọc Trong, thất Ngọc Trinh (Duy Chân đồng mẫu), bát Ngọc Vinh (Duy Mật đồng mẫu), cửu Ngọc Thọ (Duy Hữu đồng mẫu), thập Ngọc Thiệu, thập nhất Ngọc Tòng (Ý Tông đồng mẫu), thập nhị Ngọc Vịnh (mẫu Vĩnh Phúc, Sóc Sơn nhân Trịnh Thị Ngọc Quyến).
Vĩnh Khánh đế (Hy Tổ Nhân vương tôn lập)
Húy Duy Phường, Dụ Tông đích tử, kỳ mẫu Trịnh Thị Ngọc Trang (Lương Mục Vương nữ tử, Định Vương dưỡng tử). Dĩ Kỷ Sửu niên tứ nguyệt thập nhất nhật sinh đế, Kỷ Dậu niên thập nhất nguyệt thập lục nhật thụ thiền, thời niên nhị thập dĩ sinh nhật vi Tường Thánh tiết, cải nguyên giả nhất, Vĩnh Khánh (tứ niên) khởi Kỷ Dậu, Nhâm Tý niên bát nguyệt nhị thập lục nhật dĩ Bồ Lung nhi phế vi Hôn [31b] Đức công, tại ngoại xá, Kỷ Mão niên ải sát chi (tại bãi Cơ Xá). Tại vị tứ niên, thọ thập nhị thất tuế, Canh Thân niên hứa chiêu hồn, táng Thanh Trì Kim Lũ, tử quy mẫu tính. Công sinh nhị nam, trưởng tử viết Duy Cơ (mẫu An Định Vương nữ Trịnh Thị Ngọc Tây), thứ viết Duy Hiên.
Thuần Tông Giản Hoàng Đế:
Húy Duy Tường, Dụ Tông trưởng tử, kỳ mẫu Trang Từ Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Niệm (Qúy Mão niên tứ nguyệt thập bát nhật sinh thập nhất nguyệt nhị thập cửu nhật kỵ, táng Bố Vệ, kiến điện tại bản xã dĩ phụng sự), Sơn Minh Vĩnh Lộc xã nhân, dĩ Kỷ Mão niên nhị nguyệt thập ngũ nhật sinh đế. Nhâm Tí niên bát nguyệt nhị thập lục nhật tức vị, dĩ sinh nhật vi Xương phù khánh tiết, cải nguyên giả nhất Long Đức (tứ niên) khởi Nhâm Tí. Ất Mão niên tứ nguyệt thập ngũ nhật đế băng, tại vị tứ niên, thọ tam thập thất tuế. Táng Thụy Nguyên, Chẩn Xuyên, Bình Ngô thôn.[32a] Đế sinh tứ nam tứ nữ. Trưởng Duy Diêu (tức Hiển Tông), thứ Tuân Quận công Duy Huy (Hiển Tông đồng mẫu dĩ hạ), tam Duy Thiên, quý Duy Dung; trưởng nữ Ngọc Lộng, thứ Ngọc Tri, tam Ngọc Tích, quý Ngọc Danh.
Ý Tông Huy Hoàng Đế (Dụ Tổ Thuận Vương tôn lập)
Húy Duy Chấn, Dụ Tông đệ thập nhất tử, kỳ mẫu Hiến Từ Hoàng Thái Hậu Nguyễn Thị Ngọc Sắc (Ất Mão niên thập nhất nguyệt thập lục nhật sinh, thất nguyệt nhị thập nhật kỵ, táng Thụy Nguyên, Phù Lê lăng) Yên Phong, Mẫn Xá nhân. Dĩ Kỷ Hợi niên nhị nguyệt sơ cửu nhật Hợi thời sinh đế. Thuần Tông băng, kế tự vị định lại Uy vương tôn lập. Ất Mão niên, tứ nguyệt nhị thập thất nhật tức vị, dĩ sinh nhật vi Xuân Hòa thánh tiết, cải nguyên nhất, Vĩnh Hựu (lục niên) khởi Ất Mão. Canh Thân niên tốn vị vu đích điệt Duy Diêu, tôn đế vi Thái Thượng hoàng, cư Càn Thọ điện, tại vị lục niên. Kỷ Mão niên nhuận lục nguyệt sơ bát nhật Ngọ thời, đế băng [32b] thọ tứ thập nhất tuế, táng Thụy Nguyên Phù Lê lăng.
Đế sinh tam thập nhị nam thập ngũ nữ. Trưởng tử Duy Nghiên (âm Nghiên), thứ Duy Phác (âm phác), tam Duy Trọng, tứ Duy Kỳ, ngũ Duy Viện, lục Duy Bồng, thất Duy Thước, bát Duy Lựu, cửu Duy Toại, thập Duy Liêu, thập nhất Duy Khánh (âm Khánh), thập nhị Duy Đề, thập tam Duy Lễ, thập tứ Duy Chiểu, thập ngũ Duy Tán, thập lục Duy Hoạt, thập thất Duy Nhưỡng, thập bát Duy Lộng (âm Lộng), thập cửu Duy Hổ, nhị thập Duy Xứng, nhị thập nhất Duy Lãng (âm Lãng), nhị thập nhị Duy Phán, nhị thập tam Duy Đàm, nhị thập tứ Duy Hoàn (âm Hoàn), nhị thập ngũ Duy Lượng, nhị thập lục Duy Chất, nhị thập thất Duy Sáng, nhị thập bát Duy Chỉ, nhị thập cửu Duy Giới, tam thập Duy Thuyên, tam thập nhất Duy Sào, quý Duy Nhuệ (âm Nhuệ); trưởng nữ Huệ Châu công chúa Ngọc Bích, thứ Cẩn Phương Ngọc Nhu, tam Thụy Vân Ngọc Xuân, tứ Dao Phương Ngọc Tây, ngũ Diệm Châu Ngọc Diêu, lục Lan Phương Ngọc Ngoạn, thất Du Phương Ngọc Dung, bát Thụy Phương Ngọc Trân, cửu Liên Châu Ngọc Tuyền, thập Tính Phương [33a] Ngọc Tằng, thập nhất Lan Châu Ngọc Anh, thập nhị Khuê Anh Ngọc Ban, thập tam Viên Châu Ngọc Trai, thập tứ Gia Anh Ngọc Bình, quý Ly Châu Ngọc Du.
Húy Duy Diêu, Thuần Tông trưởng tử, kỳ mẫu Nhu Thận Hoàng Thái hậu Đào Thị Ngọc Nhiễm (Ãt Mùi niên tam nguyệt thập nhất nhật sinh, ngũ nguyệt sơ ngũ nhật kỵ, táng Từ Liêm dịch di hựu thiên Yên Định Đông lí) Văn Giang, Bảo Vực xã Nhân Vực thôn nhân (hựu lập Bảo Hòa điện tại y xã phụng sự). Dĩ Đinh Dậu niên tứ nguyệt sơ thập nhật Ngọ thời sinh đế, Canh Thân niên ngũ nguyệt nhị thập nhất nhật thụ thiền, thời niên phương thập tứ, đế dĩ chính đích nhập thừa đại thống, dĩ sinh nhật vi Thanh Hòa thánh tiết. Cải nguyên giả nhất: Cảnh Hưng (tứ thập thất niên) khởi Canh Thân. Sơ đế vi thời bị Trịnh thị [] quyền, câu giam. Hồng Quận công mộng kiến thần nhân vị viết: sái tảo môn đình lai nhật thiên trử hạnh kỳ gia” [33b] Minh nhật quả kiến phó giám tại y gia. Công do thử ích gia tôn trọng, hậu đăng chính điện đế ích tăng công tước Lộc. Tân Dậu niên, Thanh khiển sứ phong đế vi An Nam Quốc vương. Ãt Sửu niên Thái tử Duy Vĩ bị Tĩnh vương ải sát, giam tam Hoàng tôn tại ngục trung, nhi lập đệ ngũ Duy Cẩn vi Thái tử. Tĩnh Vương hoăng di chúc thân thần, phế trưởng Trịnh Tông nhi lập Trịnh Cán. Toại khởi kiêu binh chi tệ. Nhâm Dần niên thập nguyệt nhị thập ngũ nhật, tam quân toại ủng Tam hoàng tôn nghênh hồi điện nội nhị lập Hoàng trưởng Tư Khiêm vi tự tôn, giáng Duy Cận vi Sùng Nhượng công, dữ phù Trịnh Tông vi Đoan Nam Vương. Bính Ngọ niên lục nguyệt nhị thập lục nhật, Tây Sơn Nguyễn Huệ tiến kinh, diệt Trịnh phù Lê nhất thống Đoan Nam Vương bị cầm tự vẫn, thất nguyệt thập ngũ nhật, đế ngự triều, nhất thống văn võ bách quan quân dân giai hô: Vạn vạn tuế liên tam thanh. Đế [34a] tương đệ thập nhất nữ Ngọc Tân giá Nguyễn Huệ. Thập thất nhật đế băng, tại vị tứ thập thất niên, thọ thất thập tuế, táng Lôi Dương Thạch Bàn, hựu thiên táng y lăng thượng cục, thượng tôn thụy viết: Uyên Ý Khâm Cung, Nhân Từ Đức Thọ, Cao Minh Hậu Bác, Tuấn Văn Ôn Doãn, Thuần Đạo Đạt Đức, Triệu Thống Xương Dận, Thuế Huống Diên Hưu, Vĩnh Hoàng đế. Miếu hiệu Hiển Tông.
Đế sinh tam thập nam, nhị thập tam nữ. Trưởng tử Duy Lưu (Qúy Hợi niên bát nguyệt sơ thất nhật sinh, kỳ mẫu Trinh Thuận Hoàng hậu Trần Thị Ngọc Câu, Lôi Dương Hà Xá nhân, sinh nhị nam, tảo tốt, vô tự, gia phong Quận công, phụng sự tại Chí Kính điện; Thứ húy Duy Vĩ (nhất tác Y, Ất Sửu niên nhị nguyệt sơ nhất nhật sinh, Duy Lưu đồng mẫu. Tư Khiêm tức vị truy tôn Hựu Tông Diễm Hoàng đế. Ất Sửu niên Tĩnh Vương vu dữ Ân Vương thiếp thông, toại ải sát. Sinh tam nam tam nữ, tiên thị Ân Vương chính phi sinh nhất nữ, phối dữ Thái tử vi phi. Tĩnh Vương nãi Ân Vương thiếp tử, Chính phi trọng ái Thái tử, cập Ân Vương hoăng, Tĩnh Vương thiết kế sát chi. Phó Thiều quận công thân hành). Vương Duy Trình (Ất Sửu niên bát nguyệt thập thất nhật sinh, kỳ mẫu Doãn Chiêu Hoàng hậu Nguyễn Thị Diễm, Hoài An Đốc Tín xã nhân, sinh đắc nam tử nhị nhân dã). Tứ Duy Dịch (Bính Dần niên bát nguyệt nhị thập ngũ nhật sinh, kỳ mẫu Nguyễn Thị Đang, Chân Phúc, An Lưu nhân, sinh nhất nam nhất nữ). Ngũ Duy Cận (Kỷ Tỵ niên cửu nguyệt thập lục nhật sinh, kỳ mẫu Nguyễn Thị Nhuyễn, Văn Giang Hiến Phạm, sinh ngũ nam nhị nữ). Lục Duy Thụy (Tân Mùi niên chính nguyệt thập nhị nhật sinh, dữ Duy Trình đồng mẫu). [34b] Thất Duy Đề (Nhâm Thân niên, ngũ nguyệt sơ lục nhật sinh, kỳ mẫu Lê Thị Thịnh, Lôi Dương Cao Hào xã nhân). Bát Duy Trọng (Nhâm Thân niên cửu nguyệt sơ tứ nhật, kỳ mẫu Lê Thị Thanh, Nghi Xá nhân, sinh tam nam). Cửu Duy Thước ( Nhâm Thân niên thập nhị nguyệt thập tam nhật sinh, dữ Duy Cận đồng mẫu). Thập Duy Chư (Qúy Dậu niên lục nguyệt nhị thập nhất nhật sinh, Duy Đế đồng mẫu). Thập nhất Duy Cư (Giáp Tuất niên cửu nguyệt sơ bát nhật sinh, dữ Duy Cận đồng mẫu). Thập nhị Duy An (Giáp Tuất niên thập nguyệt nhị thập nhật Tí thời sinh, kỳ mẫu Hoàng Thị Thiêm, Kim Động Hoàng Vân nhân, sinh nhị nam. Kỷ Dậu niên tòng Chiêu Thống đế nhập Bắc quốc. Giáp Tý niên thủy hoàn bản quốc). Thập tam Duy Phùng (Bính Tý niên tứ nguyệt sơ nhị nhật, dữ Duy Cận đồng mẫu). Thập tứ Duy Lữ (Bính Tý niên tứ nguyệt nhị thập cửu nhật sinh, Duy Cận đồng mẫu). Thập ngũ Duy Quyền (Đinh Sửu niên bát nguyệt sơ tam nhật sinh, Duy Trọng đồng mẫu). Thập lục Duy Trâm (Mậu Dần niên chính nguyệt sơ tứ nhật sinh, kỳ mẫu Trịnh Thị Ngân, Chương Đức nhân, sinh tam nam). Thập thất Duy Hoàn (Kỷ Mão niên ngũ nguyệt nhị thập cửu nhật sinh, Duy Trọng đồng mẫu). Thập bát Duy Lộc (Canh Thìn niên thập nguyệt sơ lục nhật sinh, kỳ mẫu Nguyễn Thị Hùng, Sơn Minh, Vĩnh Lộc nhân, sinh nhị nam nhị nữ). Thập cửu Duy Bút (Tân Tỵ niên tứ nguyệt thập ngũ nhật sinh, kỳ mẫu Thanh Trì, Định Công nhân). Nhị thập Duy Phúc. Nhị thập nhất Duy Vũ (Tân Tỵ niên bát nguyệt sơ ngũ nhật sinh, kỳ mẫu Nguyễn Thị Viên, Đông Ngàn, Xung Quán nhân, sinh nhất nam nhất nữ). Nhị thập nhị Duy Lân (Nhâm Ngọ niên thập nhất nguyệt thập nhất nhật sinh, Duy Vũ đồng mẫu). Nhị thập tam Duy Tấn (Qúy Mùi tứ nguyệt nhị thập nhật sinh, Duy Trâm đồng mẫu). Nhị thập tứ Duy Hội (Qúy Mùi niên thập nhất nguyệt thập nhất nhật sinh, Duy Cận đồng mẫu). Nhị thập ngũ Duy Quán (Giáp Thân niên tứ nguyệt nhị thập tam nhật sinh, kỳ mẫu Yên Viêw
Nguyễn Xá nhân Nguyễn Thị Diệu). [35a] Nhị thập lục Duy Thắng (Ất Dậu niên cửu nguyệt sơ thất nhật sinh, Duy Lộc đồng mẫu). Nhị thập thất Duy Sách (Bính Tuất niên cửu nguyệt nhị thập nhất sinh, Duy Vũ đồng mẫu). Nhị thập bát Duy Túc (Kỷ Sửu niên thất nguyệt sơ thất nhật, kỳ mẫu Nguyễn Thị Chí, Sơn Minh Vĩnh Lộc nhân). Nhị thập cửu Duy Vạn (Tân Mão niên thập nhị nguyệt thập bát nhật sinh, kỳ Đào Thị Toại, Thanh Oai huyện, Vĩnh Khúc xã nhân, khởi binh diệt Tây Sơn vi Nguyễn Văn Tích sở sát). Qúy Duy Cơ (Qúy Tỵ niên thập nhị nguyệt thập tam nhật sinh, kỳ mẫu Nguyễn Thị Hương, Thanh Oai, Đồng Hoàng nhân).
Hữu tam thập danh âm tự (Lưu, Vĩ, Trình, Cẩn, Thụy, Đề, Trọng, Thước, Chư, Cư, An, Phùng, Lữ, Quyền, Trâm, Hoàn, Phúc, Bút, Lộc, Vũ, Lân, Tấn, Hội, Quán, Thắng, Sách, Túc, Vạn, Kỷ)
Trưởng nữ Quỳnh Anh công chúa Ngọc Du (Quý Hợi niên sinh, kỳ mẫu Đàm Thị Nhật, Sơn Minh, Vĩnh Lộc nhân); thứ Ngọc Anh (Bính Dần niên sinh, mẫu Nguyễn Thị Khắc, Văn Giang, Phạm Hiến nhân, sinh nhị nữ); tam Ngọc Nhu (Kỷ Tỵ niên sinh, Duy Dịch đồng mẫu); tứ Ngọc Thiều (Tân Mùi niên sinh, Duy Cận đồng mẫu); ngũ Ngọc Quỳnh (Tân Mùi niên sinh, Ngọc Anh đồng mẫu); lục Ngọc Tuyên (Nhâm Thân niên sinh, mẫu Nguyễn Thị Phức, Văn Giang An Phú xã nhân); thất Ngọc Uyển (Quý Dậu niên sinh, Duy Trọng đồng mẫu); bát Ngọc Gia (Quý Dậu niên sinh, kỳ mẫu Nguyễn Thị Lan, Thiên Bản, Lương Kiệt nhân); cửu Ngọc Bạt (Giáp Tuất niên sinh, mẫu Cao Thị Toán, Gia Lâm Phú Thị nhân); thập Ngọc Dao (Ất Hợi niên sinh, Duy Đế đồng mẫu); thập nhất Ngọc Tân (Mậu Dần niên sinh, Duy Phúc đồng mẫu); thập nhị Ngọc Nhiên (Ất Mão niên sinh, Duy Lộc đồng mẫu); thập tam Ngọc Nhiễm (Canh Thìn niên sinh [35b], Duy Trọng đồng mẫu); thập tứ Ngọc Diễm (Tân Tỵ niên sinh, mẫu Nguyễn Thị Nương, Kỳ Hoa Hương Duệ nhân); thập ngũ Ngọc Trân (Nhâm Ngọ niên sinh, Duy Lộc đồng mẫu); thập lục Ngọc Loan (Quý Mùi niên sinh, mẫu Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Thị Viên chi muội); thập thất Ngọc Châu (Quý Mùi niên sinh, mẫu Nguyễn Thị Điền, Yên Việt Quang Biểu nhân, sinh tam nữ); thập bát Ngọc Oánh (Quý Mùi niên sinh, Duy Phúc đồng mẫu); thập cửu Ngọc Huyên (Ất Dậu niên sinh, Ngọc Châu đồng mẫu); nhị thập Ngọc Liễn (Đinh Hợi niên sinh, Ngọc Châu đồng mẫu); nhị thập nhất, Ngọc Hân, (Canh Dần niên sinh, mẫu Nguyễn Thị Huyền, Đông Ngàn, Phù Ninh nhân); nhị thập nhị (Giáp Ngọ niên sinh, hiệu Ngọc Uyên, mẫu Nguyễn Thị Diệu, Nguyễn Thị Nhuyễn chi muội); quý Ngọc Bình (Kỷ Tỵ niên sinh, mẫu Nguyễn Thị Điêu, Đông Ngàn, Phù Ninh nhân).
Chiêu Thống Đế
(Tây Sơn Nguyễn Huệ tôn lập, Hữu quân Bình Quận công tôn phù)
Phụ Nguyễn Huệ (kỷ nguyên Quang Trung Giáp Tuất). Húy Tư Khiêm, sơ Hiển Tông thứ tử Duy Vĩ sinh tam nam, trưởng tức đế dã. Duy Vĩ hậu truy tôn Hựu Tông Diễn Hoàng đế (thập nhị nguyệt nhị thập nhật kỵ).
Dĩ Bính Tuất niên cửu nguyệt thập nhị nhật sinh, Bính Ngọ niên thất nguyệt nhị thập thất nhật tức vị, cải nguyên giả nhất: Chiêu Thống [36a] tứ niên khởi Bính Ngọ. Đinh Mùi niên, Nguyễn Huệ hựu tiến kinh, đế khứ bắc kinh, Mậu Thân niên thập nhất nguyệt nhị thập nhất nhật đế viện bắc binh hồi kinh tiến thủ. Kỷ Dậu niên chính nguyệt sơ ngũ nhật Nguyễn Huệ tam tiến kinh, bắc binh bại tích, đế tòng bắc binh hạnh bắc quốc. Vu thời tòng giả: duy Hiển Tông đệ thập nhị tử Duy An, Ý Tông chi tôn Duy Địch, bản tông chi nhân Duy Trợ, tính bồi thần thị vệ tam bách dư nhân. Duy Địch, Duy Trợ, bồi thần thị vệ khứ, quy bản quốc cộng thất thập nhất nhân. Nguyễn Huệ chi thần bại bắc triều quyền thần, dụ đế dĩ biện phát dị phục, thụ nhất tá lĩnh. Đế ngộ thụ chi, tòng giả giai tùy, hậu hữu Trưởng phái hầu Lê Quỷnh, Chiêu Lĩnh hầu Lê Trị, Tôn thất Trịnh Hiến, Trúng thức Quý Bỉnh Đạo bất thụ biện phát dị phục u tù thập nhất niên, hựu Ý Tông chi tôn Duy Bác đầu vô vọng quy chi kỳ. Qúy Sửu niên thập nguyệt thập lục nhật đế băng, tại vị [36b] tứ niên, thọ nhị thập lục tuế, quyền táng Bắc Kinh. Thanh hựu phong kế tập thị chức quản bản quốc nhân. Kim triều cử binh diệt Tây Sơn. Nhâm Tuất niên lục nguyệt nhị thập lục nhật Nguyễn Toản bại bắc. Giáp Tý niên cửu nguyệt nhị thập nhất nhật Duy An cập tòng giả thê tử đẳng phản hồi bản quốc hựu nghênh đế cập Nguyên tử Thái hậu tử quan truy tức ban tiền mễ bản tộc hồi táng Lôi Dương, Bàn Thạch. Đế sinh nhất nam nhất nữ (Trưởng tử Tư Thuyên vong vu Bắc quốc; Trưởng nữ Ngọc, Bắc quốc an tại câu vô tự).
 
Ngọc phả bạt ký
Hoàng triều tự Lam Sơn phấn tích, sáng nghiệp thậm nan, đắc quốc thậm chính, trưng sở tải diệc đô ước lược kỳ năng xiển, tổ đức phô tự tiền công dĩ thùy thị ư vô cùng giả, tuân diệc hữu ư kim nhật hĩ.
Hoàng đế bệ hạ soán thừa đại thống chỉ nhược tiền hiến ngự án thường hữu quốc tập ngẫu tham chi dã sử đắc [37a] ủy thần Nguyễn Hài, Trọng Viêm, Nguyễn Doãn xưng huyền đẳng, tự quý vu sơ, hạt dĩ phát huy hồng phạm nhiên kí khâm thừa ngự chỉ cảm bất bái thủ dương hưu dĩ phục kỳ vạn nhất hồ. Phục tư đế vương chi hưng, tất tu chủng đức ký thâm, nhiên hậu hữu thiên địa nhân chi trợ. Thường phỏng quốc triều khai sáng, thần kiếm [phi] tượng hoàng kì đắc hồ thiên; du sơn nghi động cổ thiên đắc hồ địa; tướng sĩ tề tâm, Man Liêu hiến khâm ; đắc hồ nhân thị tắc đa trợ chi chí, cái kì sơ dã. Tích đức kí viễn, cổ thiên địa nhân hiệp cát toại năng yêm hữu hoàn khu, bồi trực chưởng dụng, hoành tư bôn kì sở dĩ trọng thân quyến yếu chi hữu mệnh tồn yên. Khâm duy Hoàng thượng thừa tính khiêm cung, trạch tâm nhân hậu, sắc thiên chi mệnh nhi hội quy hữu cục, hợp thiên chi đức nhi trì tải vô cùng, tịch tá thành nhi nhân đạo dĩ lập, lục thập lục linh khang thọ tứ thập dư tải mục thanh trọng tăng bát thiên [37b] tải xuân thu vĩnh thừa, tổ tông cơ tự chi truyền, thử chân hiếu đức sở chí, nãi kim đôn tộc tự luân uyên trung dụ đốc báo bản phản thủy, hậu đức hằng gia ích ca chiêu dương, hồng mô hiển dương hoa phổ ư thị hữu trọng tu chi mệnh, dực tất tri lịch đại chi huân lao dĩ hữu lụy triều chi tôn phú hưởng bảo dĩ phụng sự, cập Sùng công hoăng, đệ bát thể Quận công Duy Trọng phụng sự Diên Tự công danh Hoán, sơ Hiển Tông thứ tử Duy Vĩ thời vi Hoàng Thái tử bị phao vu sự, sinh quý tử Duy Kì, sinh trưởng tử tức công dã. Qúy Hợi niên kim triều phong Diên Tự công tước Bảo, hựu nhưng thập nhị xã tịnh tha các xã điền cập lĩnh công khố tiền tịnh dân tiền cộng tam thiên quán dĩ vi phụng sự tại kinh cập Thanh Hoa các chư điện đường, tồn lật lục thiên thập bát hộc hứa bản xã nam nữ sai phân chi dụng. Giáp Tí niên lục [38a] nguyệt phụng lệnh trang tu Đông Kinh Thái Miếu thôn phong hồi kinh, chư liệt thánh vị liệt, Bố Vệ tu lí Hoằng Đức điện, hựu hứa Hiển Tông trưởng nữ Ngọc Du bản phân cửu thập hộc cấp Thanh Hoa chí Giáp Tuất niên Khải Quận công Duy Hoàn nãi tái khất lĩnh lương tại Bắc Thành công khố, Hiển Tông đệ thập thất tử dữ Diên Tự công nãi ư Bính Tí niên thập nguyệt nhật mưu đồ phục quốc bất mật sự giác bị cầm tại Thanh Hoa trấn, chí chân tâm thực đức chi khoáng sung hồ. Vưu nguyên thánh kính nhật [] đức nguyên thời dụ tỉ tử tôn hữu sở căng thức vô đãi vô hoang, thị trình thị kinh vụ tư hồ nhị thập lục diệp bất trụy chi diên đồ dĩ diên vu bách thiên dư thế tòng duy hồ. Tam bách lục thập hữu kí chi bảo tác dĩ thùy vu ức vạn [38b] dư niên, đức dĩ thủ chi, kì số hà khả thắng kỉ, ngự chế viết: Tỉ đức ư ngọc đại tai ngôn hồ. Thử thiên địa thần nhân chi phúc dã. Thần đẳng đệ phụng âm kính phục dĩ miễn yên, toại vi đoạn kí.
Sùng Công danh Cẩn. Hiển Tông đệ ngũ tử, Kỉ Dậu niên Nguyễn Huệ cấp Thiến nội điện dân tính Lam quốc tước Ngọc dĩ vi trưởng tộc phụng sự. Các chư điện đường tại Thanh Hoa hậu thụ các dân, chỉ tồn thập nhị xã tạo lệ cập Thanh Hoa tứ nguyệt tái nghênh tại Bắc thành tra vấn cụ biểu tấu tri thị nguyệt biệt chiếu ban bản tộc vô can, chí Đinh Sửu niên chính nguyệt nhật bản tộc phụng chiếu hồi kinh, chí thất nguyệt nhị thập nhị nhật cứ án tước bản tộc tức ban tiền mễ lương tạo lệ nhất niên, chí Mậu Dần niên bản tộc nghệ thành tái chiếu niêm quải thiên hạ văn tri, tịnh y Thiến lệ cấp phát cứ các chi trạch bảo Hiển Tông thân tử bản tộc cử bảo Khải [39a] Quận công tam nguyệt chiếu giáng nhất đẳng phong vi Khải Hựu Hầu giám thủ Lê tự Cai kì chí cửu nguyệt tốt, vô tự. Kỷ Mão niên tái chiếu ban trạch bảo Hiển Tông chi phái, bản tộc thuận cử Bảo thân tử đệ thập bát Thản Quận công Duy Lộc dữ tằng tôn Duy Cát, nãi Hoàng tử đệ thất cung Duy Đế sở sinh tam nguyệt sắc phong Thản Quận công Duy Lộc giám thủ Lê tự cai kì phong Thản Bình hầu. Trung Quận công húy Duy An Hiển tông đệ thập nhị tử, kỳ mẫu Chiêu Nghi Hoàng Thị Thêm (Quán Sơn Nam Thượng xứ, kim Hưng Yên, Khoái Châu phủ, Kim Động huyện Hoàng Vân xã thiên cư Bắc Ninh Thuận An phủ, Văn Giang huyện Hiến Phạm xã Trung Phú thôn. Giáp Tí niên thập nhất nguyệt thập cửu nhật Ngọ thời sinh. Ãt Hợi niên thập nhất nguyệt thập lục nhật tốt, thọ bát thập nhị tuế, táng Văn Giang Yên Phú xã [Cánh] Nhạn xứ sinh nhị nam, sơ Cung tần bác trật đệ nhất Thẩm quản hoa tần phiên phiên hậu truy thụy Hoàng Qúy Thị hiệu Diệu Nhu thụy Nghiêm Minh). Công dĩ Giáp Tuất niên thập nhất nguyệt nhị thập nhị nhật Tí thời cập trưởng thụ thụ công tước thực ấp Tiên Lữ huyện Cao Đường xã, quản Cẩm ma đội Tùy hầu quân kiêm Trương tế sinh nội ngoại đường, thú Đàm Thị Đạc [39b] (quán Sơn Nam Thượng xứ Khoái Châu phủ Mỹ Dung huyện Trà Dương xã Vinh Phái chi thứ nữ, sơ thụ Tam đốc Thượng trật đặc tiến Phụ quốc thương tướng quân Đô hiệu Kiểm ti Tá hiệu, sinh Tân Mùi niên ngũ nguyệt sơ ngũ nhật tốt vi Ãt Hợi niên ngũ nguyệt sơ thập nhật, thọ lục thập ngũ tuế, táng Bắc Ninh Văn Giang huyện Yên Phú xã Lộc Châu xứ, hậu truy tôn Đàm Qúy thị hiệu Thiện Dung thụy Ôn Lương), thủy sinh đắc tam nam tử (Duy Tộ, Duy Lộc, Duy Hỉ). Đãi Chiêu Thống tức vị tái phụng Quản dũng tá đội khâm thủ Thạch Bàn tôn Lăng thực ấp ngũ xã, tuần chí Bính Ngọ niên ngụ tào ngụy Tây binh tác loại, Kỷ Dậu niên tòng Quốc quân (tức Chiêu Thống dã, công nãi Chiêu Thống chi thúc phục) sát nhập Bắc quốc Thanh triều dụ dĩ biện phát dị phục, đãi Qúy Sửu niên Quốc quân hoăng Thanh triều hứa công tập Tá lĩnh sứ tước (trật tòng tam phẩm) quản bản quốc chư tòng vong viên nhân, tái thú thê Đinh Thị Hảo (quán Hải Dương Thượng Hồng phủ Cẩm giàng huyện Úc giang xã, nãi Hưng Hóa Trấn quan Đinh lệnh ấn chi nữ, Ất Hợi niên phụng ban tòng vong) tại Bắc quốc, hựu sinh tam nam (Duy Hựu, Duy Trinh). Giáp Tí niên phục tấu Bắc triều thỉnh nghênh quân quốc cập Thái hậu Nguyên tử tam tể cung kị tòng vong chư nam nữ lão thiếu viên nhân hồi bản quốc. Tức chuẩn ban quan tước tiền mễ hữu sai. Ất Sửu niên nhị nguyệt nhật [40a] chỉ Phú Xuân kinh [] yết phụng ban tiền mễy quần tái ban triều mạo nhất hạng triều y nhất lãnh hựu biệt dụ chiếu nội vị khiết thân viễn tị, tư thủy phục hồi, đương dữ tộc nhân ước triêm tức ác, chuẩn hứa đệ niên lương mễ nhất bách tam thập phương, kỳ thứ tử sinh tại Bắc quốc, chuẩn hứa đệ niên lương mễ tứ thập ngũ phương tái ban ngân tử ngũ thập hốt[39] hành lí tiền ngũ thập quán, chiếu tại kinh phụng thị. Tân Mùi niên thứ tử Duy Hựu phụ tòng vong bất hạnh đoạn mệnh công diệc mệnh chung, khâm ban quan nhị cụ tịnh cẩm đoạn[40] lăng quyên xung biện mệnh thị trung Học sĩ Lai Sơn hầu đông các đại học sĩ Dương châu hầu chí tế tứ thụy Hàng việt cố lê tứ đại kim tự, tái ban tôn tiền mỗi nhật nhất quán, kim ngân hương chúc cụ túc, sóc vọng gia ban tiền nhất quán, cụ nghi vật nhất nhất tằng bội. Nhâm Thân niên tam nguyệt nhật gia ban ngân tiền lương mễ, văn võ quan quân, nhất bách dư viên, ô [] thuyền tam sưu hộ tống [40b] linh cữu xuất yếu hải môn, tự xuất hải môn lũ bị phong ba, thiên tâm trợ thuận câu đắc bình ổn, tứ nguyệt nhập triều hải môn, nghệ Thanh Hoa tân, thứ dĩ sự viên dữ trấn quan tái chuẩn xuất khố tiền nhất bách ngũ thập quan, mễ ngũ thập phương trấn quân nhất bách danh, quân dung tề chỉnh, hộ tống linh cữu hồi quán chí hành táng nhật, trấn quan bái quan viên tống chí phần sở, chí tế hựu bái Bố Vệ tự dân phục vụ, chí tang sự chung, cẩn án công băng ư Tân Mùi niên thập nguyệt thập tam nhật Giáp thời, thọ ngũ thập bát tuế, tự Đốc Thực thụy Đôn Hòa. Nhâm Thân niên tứ nguyệt thập cửu nhật, quy táng ư Thanh Hoa xứ Đông Sơn huyện Bố Vệ hương Tranh Xá thôn Mạ [Đằng] xứ, kỳ địa Qúy Tí, Nhâm chuyển Hợi, Canh Tân long nhập thủ tọa Khôn hướng Cấn kiêm Tân Mùi, Tân Sửu, thủy phóng Ất phương, tang sự hoàn thành phụng nghênh thần chủ, tựu Thăng [41a] Long thành Hòe Nhai phường phụng sự, công tự Bắc quy khâm phụng bản triều ban tặng chiếu sắc cập tiểu long châu, phù tỉ, vô hữu tồn giả, công sở sinh chư tử dĩ hạ (bản triều gia ban lương mễ toàn niên, mỗi tứ thập ngũ phương) trưởng tử Duy Tộ (Tân Mùi niên lục nguyệt sơ nhất nhật sinh, thú Bắc Kinh Văn Giang huyện Yên Phú xã nhân Đỗ Thị Qúy, sinh nhất nam tam nữ, trưởng nam Duy Đỗ, trưởng nữ Thị Nhĩ, thứ nữ Thị Xán, quý Thị Lan); thứ Duy Khang (Mậu Tuất niên lục nguyệt nhị thập bát nhật sinh, thê Nguyễn Thị Loan, Yên Phong huyện Nguyễn Xá nhân, sinh tứ nam tam nữ. Trưởng Duy Nhân, thứ Duy Thân, tam Duy [Sưởng], quý Duy Tắc, trưởng nữ Thị Thai, thứ Thị Lai, quý Thị Hài); tam Duy Hỷ (Canh Tí niên lục nguyệt thập nhất nhật sinh, thế Nguyễn Thị [Ngọn], Hải Dương Cẩm giàng Nhật [] xã Vũ Xá thôn nhân, sinh nhị nam: Duy Thời, Duy Pháp. Hậu thú thiếp sinh nam Duy Ti nữ Thị Nhị); Tứ Duy Hựu (Ất Mão niên thập nhất nguyệt nhị thập thất nhật sinh, Tân Mùi niên thập nguyệt thập nhất nhật tốt, thọ thập thất tuế, tốt ư Phú Xuân kinh. Thử thứ bản triều ân ban cẩm đoạn lăng quyên phụ tòng Hoàng khảo quy táng tại Thanh Hoa xứ, vô tự); ngũ Duy Trinh (Canh Thân niên thất nguyệt nhị thập tam nhật sinh, Tân Sửu niên tứ nguyệt nhị thập cửu nhật tốt); quý Duy Dĩnh (Đinh Mão niên bát nguyệt sơ cửu nhật sinh, Mậu Tuất niên thập nguyệt thập lục nhật tốt, táng Văng Giang Yên Phú xã Đầu chợ xứ, tự Anh Minh thụy Tốn Nhượng
[41b] (trang trắng)
[42a]
Sơ Diên Uẩn hương, Mộc Cẩm thụ Chấn hương nhân tường nhận chấn hữu văn viết:
Thụ căn yểu yểu
Mộc biểu thanh thanh,
Hòa đao mộc lạc
Thập bát tử thành,
Đông A nhập địa,
Dị mộc tái vinh,
Chấn cung xuất nhật,
Đoài cung ẩn tinh,
Lục thất niên gian,
Thiên hạ thái bình,
Thụ căn yểu yểu, Căn giả bản dã, Bản do quân dã, Hương yêu âm đồng, Đương tác yêu, mộc biểu thanh thanh, biểu giả mạt dã, mạt do thần dã, thanh tinh thanh tương cận, thanh đương tác tinh, thành dã. Yêu đao mộc lạc Lê tự dã. Thập bát tự thành Lý tự. Đông A dã Trần thị dã. Nhập địa giả Bắc nhân nhập khấu dã. Dị thủy tái sinh, Lê thị tái sinh dã. Chấn cung xuất nhật giả chấn đông phương dã. Xuất nhật giả sinh thiên tử dã. Huống cung ẩn tinh giả Tây phương dã. Ẩn do một dã tinh do thứ dân dã. Thử ngôn kinh lục thất niên gian, thiên hạ quả thái bình hĩ.
Hựu sấm văn viết:
Đỗ trạch sát Đinh Đinh,
Lê gia xuất thánh minh,
Cạnh đầu đa hoành thỏ
Đạo lộ tuyệt nhân hành.
CHUNG.
 
DỊCH NGHĨA:
NGỌC PHẢ VUA NHÀ LÊ[39]
[1a]
Lê Trừ (anh thứ hai của Thái Tổ, tôn [miếu hiệu] là Hoằng Dụ Vương) - Lê Khang (là con út của Lê Trừ, tôn [miếu hiệu] là Hiển Công Vương) - Lê Thọ (là con út của Lê Khang, tôn [miếu hiệu] là Quang Nghiêm Vương) - Duy Thiệu (con của Lê Thọ, tôn [miếu hiệu] là Trang Giản Vương) - Duy Khoáng M (con của [Duy] Thiệu, tôn [miếu hiệu] là Hiếu Tông) - Anh Tông (là con thứ tư của Hiếu Tông) - Thế Tông (là con thứ năm của Anh Tông) - Kính Tông (là con thứ của Thế Tông) - Thần Tông (là con trưởng của Kính Tông) - Chân Tông (là con trưởng của Thần Tông) - Huyền Tông (là con thứ hai của Thần Tông) - Gia Tông (là con thứ ba của Thần Tông) - Hy Tông (là con thứ tư của Thần Tông) - Dụ Tông (là con trưởng của Hy Tông) - Hôn Đức Công (là con đích của Dụ Tông[40]) - Thuần Tông (là con trưởng của Dụ Tông) - Ý Tông (là con thứ hai của Dụ Tông) - Hiển Tông (là con trưởng của Thuần Tông) - Duy Vĩ (là con thứ của Hiển Tông, tôn [miếu hiệu] là Hựu Tông) - Chiêu Thống (là con trưởng của Hựu Tông).
Thái Tổ (là con út của Hiển Tổ[41]) - Thái Tông (là con thứ của Thái Tổ) - Nhân Tông (là con thứ ba của Thái Tông) - Thánh Tông (là con thứ tư của Thái Tông) - Hiến Tông (là con trưởng của Thánh Tông) - Túc Tông (là con thứ ba của Hiến Tông) - Uy Mục (là con thứ năm của Hiến Tông)[42] - Tương Dực (là con thứ của Đức Tông) - [Chiêu Tông];
[Thái Tông] - Kiến Vương (là con thứ ba của Thánh Tông, tôn [miếu hiệu] là Đức Tông[43]) - Cẩm Giang Vương Sùng (là con trưởng của Đức Tông, tôn [miếu hiệu] là Minh Tông) - Chiêu Tông (là con trưởng của Minh Tông) - Cung Hoàng - Trang Tông (là con trưởng của Chiêu Tông) - Trung Tông (Trang Tông tử) - [Anh Tông].
[1b] (Trang trắng)
[2a]
Triệu Tổ Hối [truyền đến] Tuyên Tổ Đinh [sinh ra]: Lê Tòng (sinh 3 gái), Hiển Tổ Khoáng (sinh 3 trai, 3 gái);
Lê Khoáng [sinh ra]: Lê Học (là con trưởng của Hiển Tổ, phong Chiêu Hiếu Vương), Lê Trừ (là con thứ của Hiển Tổ, tôn [miếu hiệu] là Hoằng Dụ Vương), Thái Tổ (là con út của Hiển Tổ).
Lê Học [sinh ra]: Lê Thạch (Lê Học trưởng tử, phong Trung Dũng Vương).
Lê Trừ [sinh ra]: Lê Khôi (là con trưởng của [Lê] Trừ), Lê Khiêm (là con thứ của Trừ), Lê Khang (tôn [miếu hiệu] là Hiển Công Vương);
Lê Khang [sinh ra]: Lê Độ (là con trưởng của Khang), Lê Thọ (là con thứ của Khang, tôn [miếu hiệu] là Quang Nghiệp Vương);
Lê Thọ [sinh ra]: Duy Thiệu (là con trưởng của Thọ, tôn [miếu hiệu] là Trang Giản Vương);
Duy Thiệu [sinh ra]: Duy Khoáng (là con trưởng của Thiệu, tôn [miếu hiệu] là Hiếu Tông);
Duy Khoáng [sinh ra]: Anh Tông (là con thứ tư của Hiếu Tông), Lê Khiêm (là con trưởng của Hiếu Tông), Lê Hoa (là con thứ hai), Lê Hồng (là con thứ ba), Lang Dương (là con thứ năm).
Anh Tông [sinh ra]: Thế Tông (là con thứ năm của Anh Tông); Duy Tùng, Duy Nghạnh, Duy Lựu, Duy Bách (là chi trưởng của Anh Tông);
Thế Tông [sinh ra]: Kính Tông (là con thứ của Thế Tông), Đạt Nhượng công (là con trưởng của Thế Tông);
Kính Tông [sinh ra]: Thần Tông (là con trưởng của Kính Tông), Vẫn Lĩnh công (là con thứ của Kính Tông), Hán Dương công (là con út);
Thần Tông [sinh ra]: Chân Tông (là con trưởng của Thần Tông), Huyền Tông (là con thứ hai), Gia Tông (là con thứ ba), Hy Tông (là con thứ tư);
Hy Tông [sinh ra]: Dụ Tông (là con trưởng của Hy Tông), chi thứ của Hy Tông gồm: Duy Liêu, Duy Tân, Duy Đề, Duy Hựu, Duy Lộc, Duy Phúc, Duy Tào, Duy Phụ, Duy Thiều, Duy Trực, Duy Hựu, Duy Chúc;
Dụ Tông [sinh ra]: Hôn Đức công (là con đích của Dụ Tông), Thuần Tông (là con trưởng của Dụ Tông) [truyền đến] Ý Tông (là con thứ mười[44] của [Dụ Tông]), chi thứ của Dụ Tông gồm: Duy thiền, Duy Thụ, Duy Hựu, Duy Hưởng, Duy Chân, Duy Biều, Duy Lưu, Duy Quy, Duy Mật, Duy Tải, Duy Sán;
Hôn Đức công [sinh ra]: Hiên (là con trưởng của Hôn công), Cơ (bị phế, về họ mẹ), Duy Dung.
Thuần Tông [sinh ra]: Hiển Tông (là con trưởng của Thuần Tông), chi trưởng của Ý Tông gồm: Duy Áo, Duy Lãm, Duy Trọng, Duy Cơ, Duy Viên, Duy Phùng, Duy Dược, Duy Lưu, Duy Toại, Duy Liêu, Duy Khiển, Duy Đề, Duy Cự, Duy Thiều, Duy Tán, Duy Điềm, Duy Tương, Duy Thị, Duy Hồ, Duy Xưng, Duy Dần, Duy Phán, Duy Lệ, Duy Phó, Duy Kịch, Duy Sáng, Duy Chất, Duy Chỉ, Duy Giới, Duy Chuyên, Duy Tiễu, Duy Liệt;
Hiển Tông [sinh ra]: trưởng chi: Duy Lưu, Duy Vĩ (tôn [miếu hiệu] là Hựu Tông), Duy Trình, Duy Trạch, Duy Cẩn, Duy Chuyên, Duy Đế, Duy Trọng, Duy Dược, Duy Trừ, Duy Quân, Duy An, Duy Phùng, Duy Lã, Duy Quyền, Duy Chúng (Duy Hoàn), Duy Lộc, Duy Bút, Duy Lưu, Duy Vũ, Duy Lân, Duy Tấn, Duy Hội, Duy Quán, Quy Thắng, Duy Sào (Duy Sách), Duy Túc, Duy Vạn, Duy Kỷ (/Cơ);
Duy Vĩ [sinh ra]: Chiếu Thống (là con trưởng của Hựu Tông).
Thái Tổ [sinh ra]: Quận Ai Vương[45] (là con trưởng của Thái Tổ), Thái Tông (là con thứ của Thái Tổ thứ tử);
Thái Tông [sinh ra]: Lạng Sơn vương (là con trưởng của Thái Tông), Cung vương (là con thứ hai của Thái Tông), Nhân Tông (là con thứ ba của Thái Tông), Thánh Tông (là con thứ tư của Thái Tông);
Thánh Tông [sinh ra]: Hiến Tông (là con trưởng của Thánh Tông);
Hiến Tông [sinh ra]: Lê Cẩm (con trưởng), Túc Tông (là con thứ ba của Hiến Tông) [truyền đến] Uy Mục Đế (là con thứ hai của Hiến Tông)[46] , Lê Tuyền (là con thứ tư), Lê Thao (là con thứ năm);
Uy Mục [truyền đến] Tương Dực Đế (là con thứ của Đức Tông[47]);
Cẩm Giang Vương Sùng (là con trưởng của Đức Tông, tôn [miếu hiệu] là Minh Tông);
Minh Tông [sinh ra]: Chiêu Tông (là con trưởng của Minh Tông), Cung Hoàng (là con thứ của Minh Tông);
Cung Hoàng [truyền đến] Trang Tông (là con của Chiêu Tông);
Trang Tông [sinh ra]: Trung Tông (là con của Trang Tông);
Trang Tông [truyền đến] Anh Tông[48]
[2b]
Trên đây bắt đầu từ năm Mậu Thân [1428] đời vua Cao Hoàng Đế chính thống cho đến năm Bính Tuất [1528] vua Cung Hoàng nhà Mạc tiếm ngôi tổng cộng là 99 năm (Đăng Dung tiếm từ Đinh Hợi [1527] đến Nhâm Thìn [1532] trong vòng 6 năm không có vị hiệu của bản triều[49]). Cho đến năm Quý Tỵ [1533] đời vua Trang Tông trung hưng, đến năm Bính Thìn [1556] đời vua Trung Tông dài được 24 năm. Bản chi của vua Cao Hoàng truyền được 12 đời, tổng cộng dài được 123 năm, với 14 vua[50], tính tông từ năm Mậu Thân [1428] cho đến năm Kỷ Hợi đời vua Chiêu Thống [1789] tổng cộng 26 đời vua, dài được 365 năm. (Trong đó nhà Mạc 6 năm không tính vào, [nhà Mạc] bắt đầu từ năm Đinh Hợi [1527] cho đến năm Quý Tỵ [1593] dài 67 năm[51], phụ nhà Nguyễn Tây Sơn 4 năm, Tây Sơn bắt đầu từ năm Bính Ngọ [1786] cho đến năm Kỷ Dậu [1789] không có vị hiệu của bản triều).
Vua Lê muôn vàn tuổi
Bài tựa sách Ngự chế Ngọc phả ký
Trẫm nghĩ, người xưa, từ Thánh tổ vun trồng đạo đức, thi hành nhân nghĩa, các đời nối tiếp nhau, cho đến khi dẹp yên giặc dữ, mà có được nước ta, đời sau thừa hưởng sự nghiệp đã thành, nội trị chỉnh tề [3a], khôi phục đất cũ, truyền cho đến ngày nay, vẫn còn được nhờ cậy. Trẫm kế nối đời trước, sự tích các triều không thể một ngày nào quên, thường tập hợp các bản phả hệ, đích thân xem xét, gần đây được xem nhưng ghi chép cũ của các bậc hương thân, tham khảo với bản nguyên cảo ở đầu án sách, cùng là các biệt bản khác, thì thấy có sự sai khác, bèn đặc biệt sai gia thần khảo cứu hiệu chỉnh, ghi chép biên tập cho được hoàn bích, ngõ hầu khiến cho ơn trạch cao dày của các bậc tổ tông gây đắp, cơ ngiệp to lớn của các bậc vua thần thánh truyền nối được ngày càng rạng tỏ. Việc biên tập xong xuôi, bề tôi dâng lên cho xem, càng thấy việc xây dựng cơ ngơi to lớn gian thật là gian nan vất vả, các bậc liệt thánh đều gắng gỏi giữ gìn, chứ không phải ngẫu nhiên mà có được như vậy. Trẫm nghĩ việc noi theo, còn e không theo kịp, chứ đâu dám buông thả, chỉ cố gắng giữ gìn để theo được đức Tổ tiên. Sách Lễ ký có câu “Tỷ đức ư ngọc” (đức quý hơn ngọc), vẫn thường trân trọng lời nói ấy, cho nên bèn đặt tên sách là “Ngọc phả”, và dùng tứ bảo[52] [3b] để viết bài tựa này.
Ngày đông chí tháng 11 năm Cảnh Hưng thứ 41 [1780].
[4a]
Lê Hoàng ngọc phả tập ký
[Bài ký về tập ngọc phả vua nhà Lê][53]
([Vua] họ Lê tên húy là Lợi, người thôn Như Áng huyện Lương Sơn phủ Thanh Hóa. Nay tức hương Lam Sơn huyện Thụy Nguyên phủ Thiệu Thiên xứ Thanh Hoa).
Hoàng Tằng tổ[54] (húy Hối) sau được truy tôn là Triệu Tổ Hoàng Đế, tính trời chất phác ngay thẳng, giữ mình như kẻ ngu đần, làm nghề sư công (^X)[55], lấy bà Nguyễn Thị (Ngọc Lục[56]) người sách Quần Đội huyện Lôi Dương, sau được truy tôn là Phổ Từ Hoàng Thái Hậu. Triệu Tổ thường đi chơi núi Lam Sơn, thấy có đàn chim đậu tụ tập ở dưới chân núi, như nơi người ta tụ hội, liền thốt lên “chỗ này tốt đây”, bèn dời nhà đến ở đấy (một tên gọi là Du Sơn [núi Du], một tên gọi là động Quế Lâm). Qua ba năm mà gây nên sản nghiệp, con cháu ngày một đông đúc, tôi tớ ngày một nhiều lên. Từ đấy đời đời gọi là chúa của một vùng, việc dựng nước mở đất là bắt đầu gây dựng từ đấy. Đến khi mất, đều táng chung ở lăng Lỗi Viên thôn Hào Lương. Ông bà sinh được con là Lê Đinh (tức Tuyên Tổ).
[4b]
Hoàng Tổ[57] (tên húy là Đinh) (Tuyên Tổ), sau truy tôn là Phúc Hoàng Đế, thừa kế nghiệp nhà nối chí người trước, xa gần đem lòng quy phục, theo dần được đông, có đến hơn nghìn người, lấy bà Nguyễn Thị (Ngọc Quách)[58] người thôn Xuân Lan huyện Lôi Dương, sau truy tôn là Trinh Từ Hoàng Thái Hậu (có chỗ ghi là Hiển Từ). Tuyên Tổ băng vào ngày 28 tháng 10, an táng ở lăng Lỗi Viên, về sau lại lấy ngày 20 tháng 6 băng, an táng ở xã Thủy Chú huyện Lôi Dương. Sinh hai con trai, con trưởng tên là Tòng (sinh ba gái, bất hạnh đoản mệnh[59]), con thứ tên là Khoáng (tức Hiển Tổ Tuyên Tổ, sách quốc sử ghi là Hiển Tổ Chiêu Đức Hoàng Đế; Hậu là Gia Thục Hoàng Thái Hậu).
Hoàng Khảo[60] (tên húy là Khoáng), sau truy tôn là Hiển tổ Trạch Hoàng Đế, lấy vợ là bà Trịnh Thị (Ngọc Thương) người Thủy Chú huyện Lôi Dương, sau truy tôn là Hiển Từ Hoàng Thái Hậu. Hiển Tổ vốn hay yêu thương người, nhân dân mến phục về đường nhân nghĩa của Người. Hậu rất chăm siêng công việc của người phụ nữ, nên trong nhà ngày một thịnh vượng. Hiển Tổ mất ngày 17 tháng 10, thiên táng ở lăng Phật Hoàng, động Chiêu Nghi. Hậu mất ngày 17 tháng 10, táng tại lăng Bạch Thạch, thôn Chiêu Thị (Hiển Tổ sử chép Tuyên Tổ Hiến Văn Hoàng Đế, Hậu là Trịnh Từ Đế, Hậu là Trinh Từ Ý Văn Hoàng Hậu), [5a] sinh được 3 trai 3 gái: Con trưởng là Học (mất sớm, sau tôn là Chiêu Hiếu Vương, giỗ ngày 10 tháng tư, vợ
là Thận Ý Thái phi, sinh được người con là Lê Thạch thường theo Vua Thái Tổ
chinh phạt, trong lần dũng cảm xung trận, sa vào ổ mai phục, trúng tên chết, giỗ vào
tháng tư, mộ táng tại xứ Khôi, Trang Đống, Bái Đô thượng, được phong làm Trung Dũng Vương, hiện thờ ở Bái Thượng, cũng được thờ ở Mục Thanh điện, cung Tây Ương). Con thứ 2 tên là Trừ 1^, và con út tên là Lợi (tức Thái Tổ). Trưởng nữ là
Ngọc Vị, thứ nữ là Ngọc Triển, gái út là Ngọc Biền.
Trước khi sinh ra vua Thái Tổ, Tổ Mầu là Trịnh Thị Ngọc Dung (trên chép: Ngọc Thương) ở Thủy Chú, huyện Lôi Dương, nhà Trần đã bị phế, Đế Xương Phù năm thứ 7 (Quý Hợi, 1383) đêm mồng 7 tháng 2 có một con hổ vào nhà cõng bà vào núi, xứ Đồn/Đún (Nga) Quải, lại thấy một con hổ nữa vằn đen đã ở đấy, ngồi nằm không yên, bà bèn hỏi hổ rằng: Có phải hổ khó sinh phải không? Hổ gật đầu tỏ vẻ là phải. Bà bèn bảo con hổ trước dần đường cho bà hái thuốc, lấy nước chế vào rồi cho uống, phút chốc hổ sinh ra một bào thai đã chết, bà lại lấy thuốc rửa khắp mình hổ, tức thời hổ con sống lại. Hổ lại cõng bà về nhà. Đến đêm sau lại thấy hổ đem đến một cái ấn [5b] bỏ ở sân, biết là hổ trả ơn việc đêm trước.
Vua sinh vào giờ Tý ngày 6 tháng 8 năm Ât Sửu (1385), niên hiệu Xương Phù thứ 9 tại Điện thôn, Thủy Chú. Trước đó nơi này còn có tên là Ma Kỳ, cây cối um tùm, có những cây quế cao lớn hơn hẳn các cây khác. Sách Lam Sơn thực lục chép tại Du Sơn, Như Áng hậu thôn, có con hổ đen ở đó đã 10 năm, rất thân thiết với người, chưa từng xâm phạm tới mọi giống vật, từ ngày sinh ra Vua thì không thấy hổ đâu nữa, mọi người đều lấy làm lạ vậy.
Lúc Vua sinh, ánh sáng đỏ đầy nhà, hương thơm khắp làng, phút chốc có 4 người nhũ mầu đến hầu tắm rửa rồi đặt ngài lên gường, chốc lát thì không không thấy đâu nữa.Vua hình thể rất đẹp, mắt sáng, miệng rộng, mũi cao, mình dài 6 thước, vai bên tả có 70 mụn nốt ruồi, đi như rồng, bước như hổ, lông nhỏ khắp mình, tiếng nói như chuông, dáng ngồi chồm hỗm như hổ, người thức giả đều cho là tướng quý. Kịp đến khi lớn lên, thông minh dũng trí, khác hẳn người thường, có thể làm hơn nghiệp cha. Năm Nhâm Thìn (1412) tháng giêng, ngày 10, [6a] Vua 28 tuổi, Vua sai người ra cày ở xứ Phật Hoàng, động Chiêu Lăng, thấy một lão Tăng, bận áo trắng từ thôn Đức Trai đi ra, vừa đi vừa ngắm và than rằng: “Quý thay chỗ đất này, không có người đáng cho mà cho”. Người đi cày về bảo với Vua, Vua bèn theo để xin, khi đến sách Quần Đội, huyện Cổ Lôi (nay là Lôi Dương) thấy một thẻ tre có đề “Đại đức thụ mệnh, tuế trung tứ thập, số chỉ dĩ định, tích tai vị cập” (Nghĩa là người có đại đức, được chịu mệnh trời, trong khoảng 40 tuổi, số trời đã định, tiếc thay chưa gặp). Vua rất mừng và gấp đuổi theo. Bấy giờ có rồng vàng phủ trên người vua, bỗng gặp vị lão tăng, vị này bảo Vua rằng: “Tôi họ Trịnh, hiệu là sư núi Đá Trắng, từ bên Ai Lao tới (tại Chùa Dương Sơn Cảnh Huống), nay thấy người có khí tượng thiên tử khác thường, sau hẳn thành đại nghiệp. Vua bèn quỳ xuống mà thưa rằng: “Đệ tử địa mạch quý tiện thế nào xin minh sư chỉ giáo”. Sư bảo: “Ở xứ Phật Hoàng, động Chiêu Nghi có một thửa ruộng độ nửa sào, hình như chiếc ấn vuông, tọa Khôn hướng Cấn, bên tả là núi Chí Linh hiểm trở (ở sách Giao Lão)[61], trong đó có gò Tiên Bạn, lấy núi Chiêu Sơn làm án (ở xã An Khoái), phía trước là Long Sơn, trong có Long Hồ, [6b] địa thế quanh co như ruột ốc, bên hữu có thủy nhiễu quanh, bên ngoài núi như chuỗi ngọc, về phần con trai thì quý hiển không thể nói hết, duy hận con gái có phần thất tiết, sợ về sau con cháu phân cư. Như có Minh sư cải táng cho thì có thể trung hưng được 500 năm. Vua liền đem mộ của Hoàng Khảo (cha) đến táng. Táng sâu 3 thước 5 tấc, quan tài dùng bình bát sắc trắng. Lúc đào xuống lại được tượng Phật đựng trong cái bình trong khám thờ, đem về Du Sơn phụng sự. Trời sáng về đến thôn Dao Xá hạ, bỗng mưa to sấm sét, trời đất tối tăm, thầy tăng không thấy đâu nữa. Năm Giáp Ngọ niên hiệu Thiên Khánh thứ 8 đời Trần (1354)[62], lúc ấy Vua mới
30 tuổi; Hậu Trịnh Ngọc Lữ, quê ở trang Bái Đề huyện Lôi Dương, nhà ở tại thôn Như Áng, một hôm ngày 6 tháng giêng ra vườn tưới rau thấy dấu chân người khổng lồ (dài 3 thước, rộng 2 thước), lại thấy một khối đồng lớn, trên có trụ. Hậu sợ, gọi Vua ra, liền thấy một bảo ấn, mặt, một bề dài 7 tấc 8 phân, bề rộng 5 tấc 8 phân, dầy 1 tấc, [7a] trụ cao 5 tấc 3 phân, lớn 1 tấc 4 phân; có chiếc linh phù, vai bên tả có chữ “Thuận Thiên Lê Lợi” và cái linh phù, bên hữu có câu thần chú rằng: “Thượng đế sắc mệnh, bảo ấn thiên đình, giáng xuống Nam Việt; hách hách linh linh, chư thiên sơn nhạc, khâm thụ lệnh hành, cấp cấp như luật lệnh”. Đế ngầm biết là mệnh trời, nhưng ngài dấu đi không cho ai biết (Trong Lam Sơn thực lục, thấy chép ở phần Bảo lục phía sau).
[7b] Ấn Thiên Bảo : (Hình 1)
Ân này năm Thuận Thiên thứ 3 (Canh Tuất, 1430) Vua mới sai lấy vàng đúc ấn, nặng 3 cân 5 lạng, giống như ấn hình bên, những sắc lệnh khâm thụ đều dùng ấn này, ấn Thiên bảo để trong cái hộp vàng, nay thấy hình trạng ấn và Thiên Bảo mới đúc có hơi khác, hãy giữ lại cả hai để đủ tham khảo về sau.
  1. Ấn Thiên Bảo : (Hình 2) Ấn Thiên Bảo : (Hình 3)
Năm Ât Mùi (1415), đêm mồng 10 tháng 12 có một người ở Sơn Sách, huyện Lôi Dương (xưa là Cổ Lôi) tên là Lê Thận, làm nghề đánh cá trên sông Lam Sơn, nhà ở vườn gai. Đêm hôm ấy thấy ở dưới đáy nước sáng như đuốc, cả đêm thả lưới không được con cá nào, mà nhiều lần chỉ được một phiến sắt, chiều dài 3 thước, ngang 2 tấc, dày 3 phân, hình như trái chuông (Lam Sơn thực lục thì chép: dài hơn 1 thước, trên lưỡi có linh phù, có câu thần chú rằng: [8b] “Thượng đế sắc mệnh, bảo kiếm uy cường, cử chỉ nhất động, hỏa chiếu vạn phương, sơn băng địa liệt, tặc phá thần tàng, cấp cấp như luật lệnh”. Lúc này Vua mới 31 tuổi, làm bạn với ông Lê Thận. Hôm nhà ông Thận có giỗ gia tiên, Đế đến lễ. Lễ xong, trông vào góc tối trong nhà, thấy có ánh sáng, vua đến gần xem thì ra phiến sắt (mà ông Thận đã được hôm nào), vừa hỏi xin, ông Thận cho ngay. Vua đem về rửa sạch và mài đi, thì thấy có chữ “Thuận Thiên Lê Lợi “, Vua cất đi một chỗ. Năm Bính Thân (1416), Vua 32 tuổi, ngày 15 tháng giêng giờ Dần, vua ra ngoài cửa, thấy một cái chuôi kiếm bằng đồng đen, dài 5 tấc, ngang 1 tấc 5 phân, dầy 4 phân. Vua đem cái chuôi ấy vào nhà, lấy cái lưỡi kiếm trước kia (tức phiến sắt ông Thận cho), lập đàn giữa trời Vua ngửa mặt lên trời mà khấn rằng: Nay Bắc quốc xâm chiếm nước ta, sinh dân lầm than, nếu như tôi có thể cứu dân được, thì xin cho chuôi kiếm và lưỡi kiếm liền nhau. Vua khấn xong lấy lưỡi kiếm lắp vào chuôi kiếm, thì tự nhiên liền lại như một, không thể nào rút ra được nữa và đêm đến kiếm ấy có ánh sáng như đuốc.Vua biết [9a] là thần vật, dấu đi không cho ai biết.
Hình cái kiếm và chuôi kiếm
Lê Lợi Thuận Thiên
Lê Lợi Thuận Thiên
[9b]
Trước kia Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, năm Thiên Khánh thứ 9, xưng là nước Đại Ngu, nhiều lần thiếu lễ cống cho nhà Minh, nên năm Đinh Dậu (1417), Mậu Tuất (1418), nhà Minh sai sứ là Trương Phụ, Mộc Thạch[63] chia đường sang xâm chiếm nước Nam, bắt cha con Quý Ly về Bắc và giao Lý Bân trấn thủ. Vua gặp
lúc nhiễu loạn, bèn ẩn vào chỗ sơn lâm, để tâm thao luyện, tìm kiếm các bậc trí sỹ, chiêu tập dân lưu lạc, lúc ấy có Đỗ Phú người thôn Hào Lương, cùng với Vua tranh giành, kiện đến tướng nhà Minh. Khám quan xử lẽ phải thuộc về Đế, còn Phú trái lí, thua kiện. Tên Phú g từ đấy oán hận, một hôm dẫn giặc Minh đến bắt Vua. Vua cùng Lê Liễu chạy đến bờ sông núi Lam Sơn thấy tử thi một người con gái, mình bận áo lụa trắng, đeo xuyến vàng, Vua và ông Liễu bèn mai táng và khấn rằng, nếu che chở cho ta thoát nạn này, sau được thiên hạ sẽ cho lập miếu thờ. Đắp mộ xong, giặc lùa chó ngao tới, Vua và ông Liễu ẩn vào hốc cây đa, giặc lấy kiếm nhọn thọc, trúng vào đùi bên tả ông Liễu. Ông Liễu lấy cát lau đi, khiến cho không thấy vết máu. Bỗng nhiên trong hốc cây có con cáo trắng chạy vụt ra, [10a] chó ngao bèn đuổi theo con cáo, giặc chán bỏ đi, vua được thoát nạn. (Sau bình định được thiên hạ, người đàn bà được phong làm Bạch Y Hoằng Dụ Đại Vương và
gốc cây đa được phong là “Hộ Quốc Đại Vương”. Thời vua cử nghĩa binh, có người ở Ai Lao tên là Trịnh Đồ H, đem 4 con voi mạnh, 1 lá cờ vàng đến đón Vua. Những con voi sắc hồng điểm trắng, đặt tên là “Phi Thiên Tượng”. Về sau ông Đồ được phong làm “Thái Bảo Dũng Quận Công” (Ông Đồ giúp Vua thành công, sau ông cùng voi đến An Tử rồi bay đi mất, Vua bèn đến chỗ ấy dựng đền thờ gọi là “Thiên Nhật Tự”). Năm Mậu Tuất (1418) Vua khởi nghĩa binh ở Lam Sơn, năm ấy Vua 34 tuổi, ngày 16 tháng giêng có một phản thần tên là Ái (người sách Ân Nguyệt)
cùng với tên Phú dẫn quân nhà Minh đến đào lăng Phật Hoàng ở động Chiêu Nghi, buộc cữu phía đuôi thuyền, dụ Vua phải ra hàng, nếu khước từ sẽ bị mất mả. Nhưng lúc ấy có 2 người là Trịnh Khả ^(người xã Kim Bôi) và Lê Bị (người thôn Hào Lương) chèo chiếc thuyền chở cỏ đi theo, đến bến sông Dao Xá, bọn giặc Minh ngủ say, họ lấy trộm được linh cữu đem về cho Vua. Vua trọng thưởng cho 2 người ấy rồi lại đem linh cữu táng vào lăng Phật Hoàng như cũ. Tên Ái lại một lần nữa dẫn giặc Minh đến đánh úp Vua, bắt cả gia thuộc, quân ta không có chí đánh, chỉ có mấy người thủ hạ [10b] là Lê Lễ, Lê Vấn, Lê Bí, Lê Xí, Lê Đạp theo Vua trốn đến núi Chí Linh, 2 tháng sau hết lương, đợi giặc rút, Vua mới trở về đắp thành ở Lam Sơn, quân quyền tan tác mới hơi được tập họp. Bấy giờ thế giặc đang mạnh, Đế vời các tướng đến hỏi ai có thể thay ta để sau này có thể mưu tính việc khôi phục sau này. Các tướng không ai dám nhận, duy có Lê Lai tự xin đổi áo bào để thay Đế và tức thời đi vào lũy giặc, nói: “Chủ núi Lam Sơn là ta”. Bọn giặc bèn vây bắt Lê Lai và giết đi. Từ đấy Vua được yên ổn giữ Lam Sơn, dưỡng uy thúc nhuệ. Trong 10 năm, hơn 70 trận đánh. Đến năm Mậu Thân (1428), Đế đã 44 tuổi, An Viễn Hầu Liễu Thăng nhà Minh đem 7 vạn quân sang cứu viện, bị Đế đánh tan và bị giết. Bình xong giặc Ngô, tháng 2 năm ấy định công khó nhọc tại Lũng Nhai, ban Quốc tính cho 121 người. Bậc đệ nhất công thần là bọn ông Lê Vấn 52 người, bậc đệ nhị công thần là ông Lê Bồ 72 người, bậc có công thứ 3 là bọn ông Lê Lễ 94 người. Ngày 5 tháng 3 sai Tán Quốc Công là Lê Khôi, Dụ [11a] Quận Công Lê Văn An đốc sức các huyện, xã lấy gỗ lim dựng điện Du Tiên, miếu Hoằng Hựu, miếu Chí Kính, điện Bạch Thạch, điện Hiển Nhân, đều lợp ngói, trong một năm thì hoàn thành. Ngày 14 tháng 4 năm ấy (Sử chép 15), giờ Tỵ Đế lên ngôi báu, sai Nguyễn Trãi làm bài “Bình Ngô đại cáo” khởi nghĩa 10 năm (từ Mậu Tuất 1418, đến Đinh Mùi 1427), lấy niên hiệu là Thuận Thiên (6 năm), bắt đầu từ năm Mậu Thân (1428), lấy ngày sinh nhật làm “Vạn thọ thánh tiết”, chiếu chỉ và sắc lệnh đều xưng “Thuận Thiên Thừa Vận Duệ Văn Anh Vũ Đại Vương”, hiệu là “Lam Sơn Động chủ”, truy tôn Tổ tôn thụy hiệu. Thế rồi Ai Lao là Thị Dịch đem sính lễ đến, vua Chiêm Thành từ Đồ Bàn đi thuyền đến “thuật chức”, từ đó mở nền tảng cho ức vạn năm. Tốt đẹp thay.
Xưa Vua chinh chiến bốn phương, đích thân đã trải trăm trận đánh. Những người có công: Bên võ chỉ có các ông Lê Lễ, Lê Sát, Lê Vấn, Lê Ngân, Lê Lý cộng 35 người. Văn thần có các ông Lê Đăng, Nguyễn Trãi, Lê Văn Linh, Lê Quốc Hưng. [11b] Binh quyền thời phụ tử chi binh: thiết đột 200, nghĩa sỹ 200, dũng sỹ 200, voi đực 14 con, với những người phụ vệ, già lão, thê tử nữa cộng chỉ độ 3000 người mà thôi. Năm Tân Hợi thứ 4 (1431), nhà Minh phong cho Vua làm Quyền thự An Nam Quốc sự (Xét Hoàng Triều thông khởi, nhà Minh sai sứ sang phong
cho Vua Lê làm “An Nam Quốc Vương”, từ đấy trở đi triều cống không dứt).
Năm Quý Sửu thứ 6 (1433), ngày 22 tháng tám nhuận, giờ Mùi, Đế mất tại Đông cung chánh chẩm điện. Vua ở ngôi 6 năm, thọ 49 tuổi. Người xưa truyền Vua bị bệnh phù mà mất, không nhập quan được, đến ngày 2 tháng 9 hỏa táng tại điện Cảnh Phúc, rồi đến 23 tháng 12 táng tại Vĩnh Lăng Lam Sơn bao gồm các xã: Như Áng, Hướng Dương, Giao Xá, trên từ Mệnh Sơn dưới đến Đức Trai, đều là đất lăng miếu), dâng tôn thụy Ngài là: Thống Thiên Khai Vận, Thánh Đức Thần Công, Duệ Văn Anh Vũ, Khoan Nhân Trí Dũng, Hoằng Nghĩa Chí [12a] Minh, Đại Hiếu Cao Hoàng Đế
w, miếu hiệu Thái Tổ
Húy Nguyên Long con thứ vua Thái Tổ, mẹ là Cung từ Hoàng Thái
Hậu, họ Trần, tên Ngọc Trần (Sử viết họ Phạm), người ở Quận Đội, Lôi Dương (Sử viết là “quần”, giỗ ngày 18 tháng 10). Vua sinh vào ngày 22 tháng 11 năm Quý Mão (1423, Sử viết 21 cũng viết 20). Ban đầu Hậu theo Vua Thái Tổ vào Nghệ An đến xã Triều Khẩu, huyện Nguyên Hưng, đêm Vua mộng có một vị thần đến xin một người thiếp (tục truyền vị thần này góa vợ, gọi là thần Phổ Hộ) để “hộ thiên hạ”. Vua hỏi các cung nhân, không ai chịu làm nhận làm vợ vị thần ấy, duy Hậu tự nguyện, Vua Thái Tổ đem Hậu cho vị thần. Không bao lâu Hậu băng. Vua Thái Tổ sai Lê Cố đem táng tại địa phận bản xã, đi đến xã Thịnh Mỹ thì trời tối không kịp sang sông, phải trọ lại xã ấy. Đến đêm thì kiến đắp thành mộ, Lê Cố về tâu Vua, Vua truyền cứ để nguyên đấy và gọi là lăng Ngọc [12b] Nhĩ cùng lập đền phụng sự, gọi là đền Hiển Nhân. Xưa bà Chánh phi của Vua Thái Tổ là Trịnh Thị Ngọc Lữ sinh được Thái Tử Tư Tề, tính hoang dâm tửu sắc, không thể cho thừa tự được, giáng làm Ai Quận vương (Ông này không có con nối dõi, kỵ ngày 18 tháng 10). Sau khi đại cáo thiên hạ, tháng 3 Thuận Thiên năm đầu (1328) Vua phong (Nguyên Long) làm Lương Quận Công, đến đầu tháng giêng lập làm Thái tử, đến ngày mồng 8 tháng 9 năm Quý Sửu (1433), giờ Dần lên ngôi vua, lúc này mới 11 tuổi, xưng là Quế Lâm Động chủ, lấy ngày sinh làm ngày “Kế Thiên Thánh Tiết” (Sử viết là Vạn Thọ, đã thấy ở sinh nhật Thái Tổ), về sau có đổi niên hiệu 2 lần (Thiệu Bình 7 năm, từ Canh Thân (1440) bắt đầu niên hiệu Đại Bảo). Thiệu Bình thứ 2 là năm Ất Mão, 1435, tháng Giêng Vua sai Hoàng thân Quỳ Quốc Công Lê Khang, Tán Quốc Công Lê Khôi cùng 2 ty Thừa, Hiến đốc sức các xã trong thiên hạ chặt gỗ lim, nung gạch ngói, xây dựng Tây Kinh và làm 5 gian “Hậu tẩm điện” để các cung nữ phụng thờ Sơn lăng. Trong khoảng 10 năm, cây cối tốt tươi, bèn bãi việc đặt quân coi giữ. Năm Đinh Tỵ (1437), nhà Minh sai sứ đem ấn vàng, [12b] phong đế làm An Nam Quốc vương. Ấn nặng 100 lạng, đúc hình con lạc đà. Năm Nhâm Tuất là năm Thái Bảo thứ 3 (1442), Vua tuần du miền Đông, duyệt võ tại thành Chí Linh; ngày mồng 4 tháng 8 trở về đến vườn Lệ Chi, huyện Gia Lâm, thì mắc bệnh nặng rồi mất (lúc này người vợ Nguyễn Trãi là Nguyễn Thị Lộ được Vua tư thông suốt đêm rồi Vua mất, người ta đều cho là Thị Lộ giết Vua). Vua ở ngôi được 10 năm, thọ 20 tuổi, táng tại bên tả Lăng Lam Sơn, gọi là Hựu Lăng, được tôn tên thụy là: “Kế Thiên Thể Đạo, Hiển Đức Thánh Công, Khâm Minh Văn Tứ, Anh Duệ Minh Triết, Chiêu Hiến Kiến Trung, Văn Hoàng Đế”. Vua sinh được 4 trai 4 gái, con trưởng là Nghi Dân (Năm đầu Thái Bảo,1440, lập làm Thái tử, mẹ là Nguyễn Thị Quý, mắc lỗi, bị phế làm thứ phụ, Nghi Dân cũng phải phế làm Lạng Sơn vương); con thứ Khắc Xương (phong Cung Hoàng, mẹ là Lê Thị Mai), con thứ 3 là Bang Cơ (tức Nhân Tông); con út Tư Thành (tức Thánh Tông), con gái trưởng là Ngọc Đường, thứ là Ngọc Hoàn (cùng mẹ với Nhân Tông), thứ 3 là Ngọc Điểm (cùng mẹ với Nghi Dân), út là Ngọc Tiết (cùng mẹ với Thánh Tông, là Ngô Thị Bính).
[13b]
Tên húy là Bang Cơ ^s, con thứ 3 vua Thái Tông, mẹ là Tuyên từ Hoàng Thái hậu, tên là Nguyễn Thị Ngọc Anh, người Bố Vệ, Đông Sơn (táng ở lăng Chiêu Hoa tại bản hương). Năm Thái Bảo thứ 2 (Tân Dậu, 1441) ngày 9 tháng 6 giờ Tỵ sinh vua. Năm Nhâm Tuất (1442) ngày 6 tháng 6 lập làm Thái Tử, rồi đến ngày 12 tháng 8 lên ngôi Vua. Lúc này Vua mới 2 tuổi, vì vậy phải mời Thái hậu buông rèm nghe chính sự, quyết định việc nước, lấy ngày sinh làm tiết “Hiến Thiên thánh thọ”. Tháng 10 Vua khoác áo hoàng bào, ngự ra chính điện coi triều, đổi niên hiệu hai lần. Niên hiệu Thái Hòa 2 năm, bắt đầu từ năm Quý Hợi (1443)[64]. Diên Ninh, 16 năm[65], bắt đầu từ năm Giáp Tý[66]. Vua sai Bùi Hựu sang sứ Bắc quốc, có lập đồng trụ để thề. Tháng 6 năm Kỷ Mão (1459), Lạng Sơn vương Nghi Dân cùng bọn Phạm Đồn, Phan Ban, Trần Tuấn làm loạn, chúng chia làm 3 đạo bắc thang vào thành, [14a] trèo lên cửa Đông thành vào cung, Vua và Tuyên Từ Thái hậu đều bị hại. Vua ở ngôi được 18 năm thọ 19 tuổi, không con. {Nghi Dân} đổi niên hiệu là Thiên Hưng, sau đến năm Quang Thuận thứ nhất (1460), ngày 24 tháng 10 làm lễ chiêu hồn và táng ở bên hữu lăng Lam Sơn gọi là Mục Lăng (có tài liệu viết là Dương lăng), dâng tên thụy Khâm Văn Nhân Hiếu, Tuyên Minh Thông Trí, Tuyên Hoàng Đế, miếu hiệu là Nhân Tông.
Tên húy là Tư Thành (lại húy Hiệu 4 +fM), con thứ 4 vua Thái Tông, là
em vua Nhân Tông, mẹ là Quang Thục Hoàng Thái hậu, tên là Ngô Thị Ngọc Dao, người ở Động Bàng An Định (giỗ ngày 26 tháng 3, mộ táng tại bản hương, lập điện Thừa Hoa ở thôn Xuân để thờ phụng). Vua sinh năm Thái Bảo thứ 3 Nhâm Tuất (1442), ngày 20 tháng 7 giờ Sửu. Lúc đầu bà Thái hậu cầu tự, nằm mộng đến chỗ Thượng đế, Thượng đế sai một tiên đồng xuống làm con hậu, tiên đồng không chịu đi, Thượng đế giận cầm cái hốt ngọc đập vào trán tiên đồng chảy máu. Sau, vua sinh ra, trên trán có một cái sẹo, giống như đã thấy trong mộng.
[14b]
Đế thiên tư ngày một rõ, thần thái khác thường, ngày đêm không dời bản tấu; năm Thái Bình thứ 3[67] đã được phong làm Bình Nguyên Vương. Nghi Dân tiếm vị phong là Gia vương, vẫn cho lập tiềm để ở Nội điện. Năm Canh Thìn (1460) tháng 6, lúc ấy vua 19 tuổi, bọn đại thần là Nguyễn Xí, Đinh Liệt (2 người đều được ban quốc tính Lê) phế Lệ Đức hầu, Lê Lăng lấy lụa trắng trao cho Nghi Dân bức tự thắt cổ, rồi đón con thứ của Thái Tông. Vương cố từ, bèn đón đến dinh Tây. Hôm ấy là mồng 8 tháng 6 Vua lên ngôi tại điện Tường Quang, xưng là Nam Thiên Động Chủ, lấy ngày sinh làm Sùng Thiên Thánh Tiết, 2 lần cải nguyên (Quang Thuận 11 năm bắt đầu từ năm Canh Thìn (1460), Hồng Đức (28 năm), bắt đầu từ năm Canh Dần (1470). Quang Thuận thứ 8 mới xưng là Hoàng thượng chế cáo. Năm Hồng Đức thứ 9 (Mậu Tuất, 1478) tháng giêng ngày mồng 7, sai nội thần Văn Khê tử Lê Minh Phụ điều khiển hơn 50 binh đến núi Hoàng Lâu lấy đá khối chế ra 1 con chó ngao giống như con sư tử trấn giữ [15a] phía đông cửa điện, phong làm Thái Quốc Công. Lại lấy đá ở núi Cương Cảnh cũng chế như trên, trấn ở cửa điện phía tây, phong làm Võ Quốc Công. Năm Hồng Đức thứ 28 (1497) lúc ấy bà Trường Lạc Hoàng Hậu[68], ở lãnh cung lâu ngày, lúc này vua đang có bệnh nặng, được đến để hầu bệnh, ngầm lấy thuốc độc bỏ vào chỗ lở, vua bệnh kịch và mất vào giờ Thìn ngày 30 tháng giêng năm Đinh Tỵ (1497), mất ở cung Bảo Quang. Ở ngôi được 38 năm, thọ 56 tuổi, mộ táng ở bên tả Vĩnh Lăng Lam Sơn, gọi là Chiêu Lăng, tôn tên thụy là Sùng Thiên Quảng Vận, Cao Minh Quang Chính, Chí Đức Đại Công, Thánh Văn Thần Võ, Đạt Hiếu Thuần Hoàng Đế, miếu hiệu Thánh Tông.
Vua sinh 14 con trai, 20 con gái, con trưởng là Lê Sanh/Tranh/Trành[69] (tức Hiến Tông), thứ là Lương Vương Thuyên, thứ ba là Tống Vương Tòng, thứ tư là Đường Vương Cảo, thứ năm là Kiến Vương Tân (phong Đức Tông Kiến Hoàng Đế, sinh ra Cẩm Giang Vương Sùng, Lê Khanh phong Thanh Lượng công, con út là Lê Tương phong Giản Tu công, chính là vua Tương Dực, Sùng sinh trưởng tử Chiêu Tông, con thứ là Cung Hoàng Đế), [15b] thứ sáu là Phúc Vương Tranh, thứ bảy là Diễn Vương Thông, thứ tám là Quảng Vương Tảo, chín là Lâm Vương Tương, thứ mười là Ứng Vương Chiêu, thứ 11 là Nghĩa Vương Cảnh, thứ mười hai là Trấn Vương Kinh, thứ mười ba là Triệu Vương Thuân, con út là Kinh Vương Kiện/Kiến; trưởng nữ là Gia Thục Công chúa, thứ là Ý Đức, ba là Đoan Hoa, thứ tư là Chiêu Huy, thứ năm là Thiều Dương, thứ sáu là Quỳnh Phương, thứ bảy là Bảo Thanh, thứ tám là Dương Xuân, thứ chín là Mãn Đường, thứ mười là Thao Chi, thứ mười một là Nhị Vân, thứ 12 là Cẩm Vinh, thứ 13 là Giáng Xuân, thứ 14 là Cảnh Bình, thứ 15 Đoan Hòa, thứ 16 là Kính Thuận, thứ 17 là Diễm Trai, thứ 18 là Trang Thạc, thứ 19 là Ngọc Bôi, thứ 20 là Ngọc Đoan[70].
Húy Sanh/Tranh/Trành (lại húy Huy BỆ) con trưởng vua Thánh Tông, mẹ là Trường Huy Gia Từ Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Huyên (Sử viết là Hằng), người ở Trang Miêu Ngoại Tống Sơn. Năm Quang Thuận thứ 2 (Tân Tỵ, 1461) ngày 10 tháng 8 bà mộng thấy rồng vàng vào chỗ bà ở, rồi một chốc sinh ra vua. [16a] Năm thứ 3 (Nhâm Ngọ, 1462, ngày 4 tháng 12 lập làm Hoàng thái tử. Năm Hồng Đức thứ 28 (Đinh Tỵ, 1497), ngày 1 tháng 2 giờ Ngọ lên ngôi Vua. Năm Hồng Đức thứ 28 (Đinh Tỵ), ngày 1 tháng 2 giờ Ngọ lên ngôi vua (Sử viết là ngày 6 Mậu Dần), xưng Thượng Dương Động Chủ, lấy ngày sinh nhật làm Thiên thọ thánh tiết. Năm sau đổi niên hiệu là Cảnh Thống (7 năm), bắt đầu từ Mậu Ngọ (1498). Đến ngày 24 tháng 5 năm Giáp Tý (1504) Đế mất, ở ngôi vua được 8 năm, thọ 44 tuổi, mộ táng ở Lam Sơn, dâng tên thụy là: Thể Thiên Ngưng Đạo, Mậu Đức Chí Nhân, Chiêu Văn Thiệu Võ, Tuyên Triết Khâm Thánh, Chương Hiếu Duệ Hoàng đế. Miếu hiệu Hiến Tông.
Đế sinh được 5 trai 10 gái, con trưởng là An vương Cẩm (Sử viết là Gian), con thứ là Duệ (sử chép là Huyên tức Uy mục Đế), thứ 3 là Cách (tức Túc Tông), thứ 4 là Minh vương Tuyền (mẹ là người xã Bình Lăng), thứ 5 là Ân Vương Thao (Sử chép con thứ tư là Thông vương Dung; thứ 5 là Minh vương Trị, Sử chép 6 con trai, người thứ 6 là Ân vương Dưỡng); con gái không chép tên.
[16b] Húy Thuần '7 (lại húy là Thuần /$, có tài liệu viết Dung ^), con thứ 3 Vua Hiến Tông, mẹ là Trang Thuận Hoàng Thái hậu Lê Thị Ngọc Hoàn (Sử
viết là họ Nguyễn) người ở Bình Lăng, Thiên Thi (có tài liệu chép người Dao Xá, giỗ ngày 15 tháng 5). Tháng 8 năm Hồng Đức thứ 19 (1488) sinh ra Vua. Năm Cảnh Thống thứ 2 (1499) tháng 3 lập làm Thái Thái tử[71]. Năm Giáp Tý (1504) ngày 2 tháng 6 (Sử viết ngày 6) lên ngôi Vua tại điện Hoàng Cực, đổi niên hiệu 1 lần là Trinh Thái[72] [73] bắt đầu từ năm Giáp Tý (1504). Lấy ngày sinh làm Thiên Minh Thánh tiết. Cũng năm ấy ngày 8 tháng 12 Vua mất, ở ngôi vua được 7 tháng, thọ 17 tuổi. Mộ táng tại xứ Cánh Diều, khu Chiêu lăng Lam Sơn, dâng tên thụy là: Chiêu Nghĩa Hiển Cung, Uyên Mặc Thuần Hiếu Hoàng Đế Miếu
hiệu là Túc Tông
Húy Tuấn (^ + ậ) (lại húy Huyên gH ) con thứ 3 Vua Hiến Tông[74], anh thứ Vua Túc Tông. Mẹ là Chiêu Nhân Hoằng Ý Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Cẩn, người ở Phù Chẩn, Đông Ngàn. Năm Hồng Đức thứ 19 (1488), tháng 5 ngày 5 giờ Tý sinh Đế, năm Giáp Tý (1504), ngày 18 tháng 2 ( có lẽ nhầm, Sử ghi tháng 12) giờ Tỵ lên ngôi vua, xưng là Quỳnh Đô Động Chủ, lấy ngày sinh làm Thiên Khánh Thánh Tiết. Đổi niên hiệu có 1 lần là Đoan Khánh (5 năm), năm đầu là Ât Sửu (1505). Khi Vua Túc Tông mất, bà Trường Lạc Thái hậu cho Vua là con tỳ thiếp không muốn lập, mà lập Lã Khôi Vương ẼMĩ. Lúc ấy nội thần là Nguyễn Nhữ Vi cùng với thân mẫu Đế mưu tính lập Đế. Nhữ Vi bèn nói thác với Thái hậu là đi rước Lã Khôi Vương ẼMĨ, rồi đóng cửa thành mà lập Đế. Thái hậu thấy Đế được lập thì không vui, Đế bèn sai tả hữu mật đến điện Trường Lạc giết đi. Sau khi Đế lên ngôi, đêm đêm cùng cung nhân uống rượu vô độ, hễ say là giết càn, bị nhiều người trong tôn thất ghét. Đế giết những bậc anh em thúc phụ cộng 26 người. Nhà Minh sai sứ sang ban tặng cho Đế, thấy tướng mạo Đế họ có đề câu :
An Nam tứ bách vận do xương,
Thiên ý như hà giáng quỷ vương
(An Nam bốn trăm năm lẻ còn hưng thịnh,
Sao lại sinh ra hạng quỷ vương).
Đến năm Kỷ Tỵ (1509) [17b] Đế sai làm cung ở ngoài thành, trên Hồ Tây, sai 300 thị nữ lấy chu sa làm quần, xuống thuyền và vui đùa dưới nước (Tục gọi thuyền chu). Bỗng nhiên mưa to gió dữ nổi lên, làm thuyền vua chìm lỉm, mất kiếm thần và bảo ấn (Sử viết Thánh Tông băng, thần kiếm và bảo ấn đều mất). Đế sai quân kết đăng vây kín chỗ ấy để mò tìm nhưng không thấy. Đến tháng 11 năm này, họ hàng của Trường Lạc Thái hậu là Nguyễn Văn Lang, người Thanh Hoa cất quân tới thành Tây Đô, phạm vào cửa Thần Phù. Lúc này Tu Giản Công là Oanh M ở trong ngục, hối lộ cho người coi ngục được thoát ra ngoài, trốn vào Tây Đô, Văn Lang tôn làm Minh chủ, dẫn quân thẳng đến Đông đô; Đế bèn giết Cẩm Giang Vương, em là Mông w và Quyên Ỷi cũng đều bị hại. Oanh M đem quân áp sát thành, Đế thua chạy nhưng bị bắt, ngày mồng 2 tháng 12 năm ấy, Đế phải uống thuốc độc tự tử, ở ngôi vua được 6 năm, thọ 22 tuổi. Mộ táng tại An Lăng Phù Chẩn, cùng hàng với Giản Tu Công phải giáng xuống làm Mần Lệ Công ^o^. Năm Quang Thiệu thứ 2 (1517) [18a] được truy tôn làm Uy Mục Đế
Húy Oanh )M[75] (lại húy Trừu 0M)[76]. Xưa con thứ 5 của Vua Thánh Tông là Kiến Tân vương[77]; (Truy tôn Đức Tông Kiến Hoàng Đế) sinh người con trưởng là Sùng (phong là Cẩm Giang Vương, sau tên thụy là Trang Định Đại vương, truy tôn là Minh Tông Triết Hoàng đế), con thứ là Khanh (phong Thanh Lượng Công, Sử chép là Tĩnh) và con út là Đế. Mẹ là Huy Từ Trang Huệ Kiến Hoàng Thái hậu Trịnh Thị Ngọc Tuyên (mộ táng tại xã Mỹ Xá, Ngự Thiên) người ở Thủy Chú, huyện Lôi Dương. Năm Hồng Đức thứ 16 (1485) ngày 25 tháng 6 sinh ra Đế. Thời Vua Hiến Tông được phong làm Giản Tu Công, sau việc cử quân giết Uy Mục Đế, năm Đoan Khánh thứ 5, Kỷ tỵ (1509), ngày mồng 3 tháng 12 lên ngôi vua, xưng là Nhân Hải Động Chủ lấy ngày sinh nhật làm Thiên Bảo Thánh Tiết
Đổi niên hiệu 1 lần là Hồng Thuận (7 năm), bắt đầu từ Kỷ Tỵ (1509). Đế giết
những người trong tôn thất mất 15 người. Cung nhân của Mục Đế và các vua triều trước Đế [18b] đều dâm loạn. Nhà Minh sai sứ là Phan Nghĩa Tăng tới nước ta, thấy tướng mạo Đế đã đề rằng : “Mạo mỹ nhi thân khuynh, tính hiếu dâm, nãi trư vương dã, tử bất cửu hỹ” (Tạm dịch: Mặt đẹp nhưng mình nghiêng, tính hiếu dâm, đó là vua lợn vậy, chết chẳng lâu đâu). Năm Bính Tý (1516), nguyên là Quận công Duy
Sản vì nhiều lần trái ý Đế bị phạt đánh trượng, bèn mưu việc phế lập. Ngày 6 tháng 4, đương đêm khoảng canh 3, đem 3000 vệ sĩ Kim Ngô vào cửa Bắc Thần, Đế nghe có loạn chạy ra ngoài cửa Bảo Khánh, được 7 ngày trong lúc Đế đang tắm ở ao Chu Tước, Sản sai người giết chết. Đế ở ngôi được 8 năm, thọ 24 tuổi. Táng tại Nguyên Lăng, xã Mỹ Xá, Ngự Thiên, (Nay có điện Quang Hiếu phụng thờ, giáng làm Linh Ẩn Vương. Năm Quang Thiệu thứ 2 (1517) truy tôn là Tương Dực Đế
Húy Y (hoặc Ỷ/K) lại húy là Huệ ễ , là con trưởng Cẩm Giang Vương
Sùng, mẹ là Đoan Mục Hoàng Thái hậu Lê Thị Ngọc Loan (Sử chép họ Trịnh), người ở Vĩnh [19a] Trung, Thanh Trì (Sử chép là người Phi Cảo, Thanh Đàm). Năm Đoan Khánh thứ 2 Bính Dần (1506), ngày 4 tháng 10 sinh ra Đế. Sản đã giết Vua Tương Dực, bèn đón lập Đế, nên ngày 20 tháng 4 năm Bính Tý (1516) giờ Thìn, Đế lên ngôi, mới 14 tuổi (Sử chép là 11 tuổi), cải niên hiệu 1 lần là Quang Thiệu được
8 năm, bắt đầu từ Bính Tý (1516), lấy ngày sinh làm Nghi Thiên Thánh tiết ^. Bấy giờ con trai Nghi Quốc Công Văn Lang là An Hòa hầu Hoằng Dụ, đánh giặc Trần Cảo ở Bồ Đề, nghe thấy Sản làm việc thí nghịch bèn qua sông Hồng đốt kinh thành. Sản phải rước Đế về thành Tây Đô Thanh Hoa. Cảo hãm kinh thành, Hoằng Dụ chạy về hàng. Đế bèn sai Duy Sản, Hoằng Dụ, Trịnh Tuy tiến binh, Cảo thua chạy về Thái Nguyên, Lạng Sơn. Đế về kinh, sai Sản đánh Cảo, Sản bị Cảo giết, Cảo dẫn binh đến Bồ Đề, Đế sai Trần Chân đến đánh, Cảo thua to, trốn trong vùng Lạng Sơn Thái Nguyên rồi chết. Hoằng Dụ và Trịnh Tuy có hiếm khích, Dụ
cử binh đánh Tuy tại kinh thành. Tuy chạy vào Thanh Hoa, Chân M cho rằng Dụ đuổi Tuy, bèn đánh Dụ, Dụ trốn [19b] vào Thanh Hoa. Chân đã đuổi dược Hoằng Dụ rồi, chuyên giữ quyền bính trong Triều. Năm Mậu Dần (1518), Vua bèn vời Chân vào trong cung cấm, giữ lại rồi giết đi. Bọn đệ tử của Chân là Hoàng Duy Nhạc, Nguyễn Kính, Nguyễn Áng nghe biết cất quân đánh Kinh thành, ban đêm Đế phải tránh ra Bồ Đề, sai triệu Mạc Đăng Dung vào ra mắt. Đế tại Bảo Châu mệnh đem quân thủy bộ đi đánh giặc.
Ngày 20 tháng 9 Kỷ Mão (1519) Đế về kinh; năm Tân Tỵ (1521) phong cho Đăng Dung làm Nhân Quốc Công, được thống suất 13 đạo quân thủy bộ đi đánh giặc. Đăng Dung quyền thế ngày càng to, đi bộ thì có lọng phượng dát vàng, đi thủy thì thuyền rồng dây kéo, ra vào trong cung cấm không kiêng sợ gì. Ngày 27 tháng 7 năm Nhâm Tý[78] đêm canh 2 Đế ra huyện Ma Nghĩa Tây Minh, xã Mộng Sơn[79]. Tháng 8 Đăng Dung lập em là Xuân lên ngôi vua, tức là Thống Nguyên Đế
Ngày mồng 10 Nguyên Đế tới Hồng Thị, huyện Gia Phúc, Hải Dương làm hành điện trong huyện ấy. Ngày 11 Quang Thiệu [20a] từ Mộng Sơn về kinh, ngày 16 ngự Thụy Quang hành điện coi triều trăm quan. Đăng Dung chia quân thủy bộ phạm vào bến Đông Hà, vào thẳng Thụy Quang điện. Đế bèn trốn ra trú tại Nhân Mục, đêm ấy đến chùa Trùng Quang ở xã Đại Mỗ, huyện Từ Liêm. Ngày 20 tháng 9 Quang Thiệu lại dẫn quân về đóng ở phía tây kinh thành, tức là xã Thượng Yên Quyết, làm hành điện để coi triều. Ngày 18 tháng 10 Trịnh Tuy cõng Đế về Thanh Hoa, cũng ngày ấy Nguyên Đế từ huyện Hồng Thị về kinh. Năm Quý Mùi (1523), Đăng Dung giáng Quang Thiệu xuống làm Đà Dương Vương. Năm Ât Dậu (1525) Đăng Dung đánh Tuy ở đầu nguồn Thanh Hoa, gặp được Quang Thiệu ở châu Lang Chánh, phủ Thanh Đô. Năm Bính Tuất (1526), ngày 8 tháng 11 (Sử viết là 18) Đăng Dung khiến người trong thành là Chẩn Xuyên Hầu (Sử viết là Bái Khê bá Phạm Kim Bảng) mật giết vua ở Vĩnh Hưng Thanh Đàm. Đế ở ngôi được 11 năm, thọ 21 tuổi (Sử viết 26). Mộ táng tại An Lạc, Nguyễn Xá, Lam Sơn (Sử viết Thanh Đàm, Vĩnh Hưng, [20b] nay là xứ Mép Voi, huyện Thanh Trì). Đế sinh được một con trai là Duy Ninh, tức Trang Tông.
Cung Hoàng Đế:
Húy Xuân cùng mẹ với Chiêu Tông ^^. Ngày 22 tháng 7 năm Đinh Mão (1507) Đế sinh, ngày 1 tháng 8 năm Nhâm Ngọ (1522) Đế lên ngôi, cải niên hiệu 1 lần, là Thống Nguyên (được 5 năm), khởi đầu từ năm Nhâm Ngọ (1522), lấy
ngày sinh làm Khâm Thiên Thánh Tiết Năm Đinh Hợi (1527), Đăng
Dung tại Cổ Trai AW, Đế sai sứ thần cầu phong cho Đăng Dung làm An Nam Quốc Vương, Đăng Dung vào kinh sai Lại bộ Thương thư Vạn Xuyên hầu Phan Đình Tá, người xã Phù Lưu, huyện Thiên Lộc, Nghệ An; Bảng nhãn Đông Các đại học sỹ Đạo Xuyên bá Nguyễn Văn Thái, người Tiền Liệt, Vĩnh Lại; Trạng nguyên Hoàng Văn Tán thảo chiếu chỉ (Sử chép Đông các Đại học sĩ Nguyễn Văn Thái thảo chiếu), ngày 17 (Sử viết 15) ép Đế nhường ngôi. Đăng Dung tiếm vị, xưng Minh Đức Nguyên niên, giáng Đế [21a] làm Cung Hoàng . Ngày 15 tháng 8 nhuận năm ấy bắt Đế
phải tự tận[80], Thái hậu cũng bị hại. Đế ở ngôi được 5 năm, thọ 21 tuổi, mộ táng tại Phỉ Dương lăng ở Mỹ Xá, Ngự Thiên (có sách chép Cung Tiết lăng, nay thôn Hữu Thừa phụng tự). Sau truy thụy là Cung Hoàng Đế. Ngụy Đăng Doanh năm Đại Chính nguyên niên, sai Mạc Phỉ Điển cùng ngụy Hùng Viễn Hầu Mạc Công Chính và Nội giám ngụy Văn Khê Bá Nguyễn Tiến đánh phá hương Lam Sơn, đốt điện Tây Kinh, sát hại hoàng tôn công thần, đốt cả chúc thư sắc mệnh, mọi người phải trốn tránh, làng mạc tiêu điều.
Trang Tông Dụ Hoàng Đế : (Phụ: Đăng Doanh kỷ nguyên là
Đại Chính ^^(bắt đầu từ Giáp Dần, ĐVSKTT viết Canh Dần,1530), Phúc Hải
kỷ nguyên là Quảng Hòa (khởi từ năm Tân Sửu, 1541), Phúc Nguyên kỷ
nguyên là Vĩnh Định (khởi nguyên là Đinh Mùi, 1547) Cảnh Lịch -^^(khởi nguyên năm Mậu Thân, 1548).
Đế húy là Ninh (lại húy Tuân con Vua Chiêu Tôn, mẹ là Gia Khánh Hoàng Thái hậu Phạm Thị Ngọc Quỳnh người sách Cao Trĩ, Thụy Nguyên.
[21b] Năm Tân Tỵ (1521) ngày 15 tháng 10 giờ Tỵ Đế sinh. Lúc ấy Đăng Dung tiếm vị, thân mẫu Đế phải trốn ở nhà Lê Lan, sách [Trung] Lập, Hưng Trung, Nông Cống. Lúc nhà Mạc mới cướp ngôi, có người ở Tống Sơn là Nguyễn Hoằng Dụ
cùng với Hữu vệ điện tiền Tướng quân Thanh Quan hầu Nguyễn Đồ M;'^[81] đem con cháu sang Ai Lao, được vua Ai Lao cấp cho người ngựa tại Sầm Châu, Đồ bèn nuôi dưỡng binh sỹ, chiêu nạp kẻ chống đối [nhà Mạc], mật tìm dòng dõi nhà vua để lập lên ngôi, may gặp được con của Ninh Chiêu Tông, bèn rước sang Ai Lao. Ngày 18 tháng 2 (Sử chép tháng 12) năm Nhâm Thìn (1532) tôn lên làm đế, đổi niên hiệu 1 lần là Nguyên Hòa (được 16 năm, bắt đầu năm Nhâm Thìn. Năm sau
(1533) tôn Đại tướng quân Đồ làm Thượng phụ Thái sư Hưng Quốc Công, giữ hết mọi việc trong ngoài, cùng với Ai Lao kết thân, giúp cho binh sỹ, mưu đồ khôi phục. Ngày 17 tháng 3 kéo quân về cố đô, ngày 17 tháng 10 đến Lam Sơn, lập doanh trại xứ Du Tiên, Tiền thôn, Dao Xá để hưởng tế Thái Miếu, chiêu tập các thôn phường cũ ở Lam Sơn [22a], lúc ấy chỉ còn có các phường Lam Xuyên, Khánh Hưng, Phúc Lâm, Dao Xá phụng sự kinh điện. Đế bèn ban sắc cho các phường làm “Nội phụng nhuệ dân”, cùng tuân theo cựu lệ, mệnh Lê Văn Tích người thôn Dao Xá làm Hương quan, Trịnh Văn Ngai phường Lam Sơn làm Hương lại, lập lại những sổ nhân số, điền số của bản hương và các hộ số các huyện xã theo như lề lối cũ. Tháng 5 năm Kỷ Tỵ (1509, nhầm; Sử chép là Ất Tỵ, 1545) nhà Mạc sai hoạn quan Trung Hậu hầu giả xin hàng, mời quan Thái sư ra ngoài dinh ăn yến, mật dùng thuốc độc bỏ vào trong dưa vàng, ông ăn phải, về nhà trong lòng buồn bực chết. Được truy tặng Chiếu Huân[82] Tĩnh Công. Nguời con rể là Dực Quận Công Trịnh Kiểm được phong làm Tiết Chế Lượng Quốc Công, phàm binh quyền phong tước bổ quan đều giao cho ông toàn quyền điều hành. Năm Bính Ngọ (1546) lập Hành điện tại sách Vạn Lại, Lạng Quốc Công đánh đến đâu đều thắng, Ái Châu đã tạm yên. Năm Mậu Thân (1548), ngày 29 tháng giêng Đế mất, ở ngôi được 16 năm, thọ [22b] 34 tuổi. Mộ táng tại Cảnh Khánh, sách Trung Lập, Lam Sơn. (Bấy giờ vì ngụy Mạc chưa bình nên chưa lập Viên Lăng), dâng tên thụy là: Hoằng Nhân Dũng Trí, Bố Đức Tạo Mưu, Chiêu Điển Triệu Nghiệp, Thuần Hy Thần Đoán, Lệ Vũ Hành Nghị, Khôi Liệt Kiến Tích, Phục Quốc Phù Tộ, Dụ Hoàng Đế.
Miếu hiệu: Trang Tông ^^. Đế sinh ra Lê Giản (tức Trung Tông vậy).
Trung tông Võ Hoàng Đế
Tên húy là Giản (lại húy Huyên con trưởng Vua Trang Tông. Mẹ là Trinh Thục Hoàng Thái hậu Lê Thị Ngọc Tông người ở Thủy Chú, huyện Lôi
Dương (Có chỗ nói là người Ai Lao, giỗ ngày 29 tháng 6). Năm Mậu Tuất (1538) ngày mồng 6 tháng 12, giờ Hợi, sinh ra Đế. Đến năm Mậu Thân (1548), ngày 13 tháng 11 lên ngôi Vua tại sách Vạn Lại. Năm sau đổi niên hiệu (một lần) là Thuận Bình (được 8 năm), bắt đầu từ năm Kỷ Dậu (1549). Năm Tân Hợi (1551), Lượng Quốc Công tiến quân đến bức kinh sư, Nguyên Phúc[83] phải bỏ thành chạy, để
Mạc Điển ở lại cầm cự. Năm Quý Sửu (1553) dời Hành điện đến Kinh Trường.
Đến năm Bính Thìn (1556) [23a], ngày 24 tháng Giêng, Đế băng, không có con nối dõi. Ở ngôi được 9 năm, thọ 23 tuổi (Sử chép 22). Mộ táng tại Dụ Lăng, Lam Sơn, Nguyễn Xá. Lượng Quốc Công tìm được Duy Bang là chắt của ông Lê Trừ, anh thứ 2 của Vua Thái Tổ, tại làng Bố Vệ, bèn rước về lập lên làm vua.
Anh Tông Tuấn Hoàng Đế
(Thế tổ Thái vương tôn lập, từ triều này dùng chữ Duy ểỀ)
Phụ chép Mậu Hợp (niên hiệu Thuần Phúc khởi đầu từ năm Nhâm Tuất
(1562), niên hiệu Sùng Khang khởi đầu từ năm Bính Dần (1566)).
Vua húy Duy Bang ^^. Ban đầu anh thứ 2 của Vua Lê Thái Tổ là Lê Trừ (tặng Lam Quốc công, truy tôn Hoằng Dụ vương, giỗ ngày 28 tháng 10, dựng điện Hoằng Khánh ở sách Đại Lai; phi là Lê Thị Ngọc Lăng người Đại
Lai, sau truy tôn là Trinh Cẩn Thái phi) ; Trừ sinh ra Khang (tặng Quỳ Quốc công truy tôn Hiển Công vương; giỗ ngày 2 tháng 2. Phi Lê Thị Ngọc Ái tôn là Thục Ý Thái phi, giỗ ngày 3 tháng 4); Khang sinh ra Thọ w (truy tôn là Quang Nghiệp vương, giỗ ngày 30 tháng 11. Phi là Lê Thị Ngọc Thụy người Kim Lũ, tôn là Đoan Thuận Thái phi, giỗ ngày 18 tháng 9). Thọ w sinh ra Thiệu (Truy tôn là Trang Giản vương, giỗ ngày 19 tháng 4, phi là Lê Thị Ngọc Tuyền a^^, người Nguyễn Xá, truy tôn là Tuy Lí Thái phi, giỗ ngày 17 tháng 7). Thiệu sinh ra Khoáng M (Sử chép Khoáng phong Đông Lâu bá, truy tôn Hiếu Nhân Tông Hoàng đế, giỗ ngày 16 tháng 10. Phi Phạm Thị Ngọc Lâu có
bản viết Nguyễn Thị Ngọc Tây truy tôn Tự Khâm Hoàng Thái hậu).
Khoáng M sinh ra r Xuy] lĩnh Hầu tức vua vậy.
Năm 31 tuổi, Vua lên đầu thượng lưu, khi bè quay về [23b] đến bến Thịnh Mỹ thì gặp mưa to gió lớn, lúc ấy người trong xã Thịnh Mỹ là Nguyễn Thượng Thư, đêm nằm mộng thấy thiên tử tới nhà. Đến sáng mai quả thấy vua, ông đem câu chuyện đó nói với Lượng Quốc Công. Bấy giờ Trung Tông băng, không có con nối dõi, Lượng Công bèn rước về điện tại Phúc Bồi. Giờ Ngọ ngày 12 tháng 11 năm Bính Thìn (1556) được tôn lên làm vua. Đổi niên hiệu 3 lần. Thiên Hựu (2 năm) bắt đầu từ năm Đinh Tỵ (1557, Chính Trị (14 năm) khởi đầu từ năm Mậu Ngọ (1558), Hồng Phúc (1 năm), khởi đầu từ năm Nhâm Thân (1572). Năm Mậu Thìn (1568), Thượng tướng Thái Sư Trịnh Kiểm chết[84], truy tôn là Thế Tổ Minh Khang Thái Vương. Con trưởng là Cối đêm đến chỗ em là Tùng (Tùng là con thứ Thái
vương, ban đầu phong Tiết chế Trưởng công, tiến phong Đô Nguyên soái Tổng quốc Chính Bình An vương, sau tôn là Thành Tổ Triết vương) bức phải phụng sự[85]. Tùng đang đêm chạy đến Trường An hành, mật tâu vua dời Hành tại đến sách Vạn Lại[86], dùng binh quyền cứ thủ. Cối đưa quân đuổi theo, nhiều lần đánh không thắng, bèn ra hàng nhà Mạc. Cảnh Ông Diên Ngạn nói với Đế rằng: “Tả tướng quân Trịnh Tùng quyền thế ngày một thịnh, bệ hạ khó cùng ở”, Đế bèn lén đi Nghệ An và đem theo các hoàng tử Bách ^Ệ, Lựu Ngạnh Tùng ^. Tả tướng quân đón rước Vua. Con út của vua là Duy Đàm ở Quảng Thi, sai Hữu Liêu tiến binh đến thành Nghệ An, Vua trốn ở Giá Điền (Ruộng mía). Liêu rước Vua về. Ngày 22 tháng giêng năm Nhâm Thân (1572) về đến Đô Xá, Nông Cống (Sử chép Lôi Dương), thời bị giết[87]. Đế ở ngôi 17 năm, thọ 42 tuổi (Sử chép 49 tuổi). Mộ táng ở lăng Hoa Tung Bố Vệ, thôn Tĩnh Xá, Đông Sơn. Đế sinh được 5 trai một gái. Con trưởng là Duy Bách ếỀtâ (mẹ Lê Thị Khuê, người Tam Lư, Lôi Dương, sinh 1 trai,1 gái), con thứ là Duy Lựu ểỀỶể (cùng mẹ với chúa đang trị vì), con thứ 3 là Duy Ngạnh (mẹ
là Lê Thị Ngọc Biền, người Nông Cống), con thứ 4 là Duy Tùng ếỀtẨ' (tức Chúa
phù) con thứ 5 là Duy Đàm (tức Thế Tông). Con gái là Ngọc Lễ (chúa
vốn gả cho Cống cử Hoàng Đình Phùng).
Thế Tông Nghị Hoàng Đế, Thành Tổ Triết Vương Lâp:
Tên húy là Duy Đàm, con út Vua Anh Tông. Mẹ là Tuy Khương Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Diệm (lúc đầu phong Minh phi, sau phong Chiêu Nghi, đến khi mất được tôn là Tuy Khánh, truy tôn Liên Hoa Hoàng Thái hậu, giỗ ngày 8 tháng 5, táng tại Hào Lăng Trung đoạn), người ở Bố Vệ Đông Sơn . Năm Đinh Mão (1567, Chính Trị thứ 10), ngày 12 tháng 11 sinh Đế ở Quảng Thi. Khi AnhTông đi Nghệ An,Vua còn nhỏ không được theo, đến ngày mồng 1 tháng Giêng năm Quý Dậu (1573) giờ Dần, Tả tướng lập lên làm vua tại Vạn Lại, lúc ấy Đế mới 7 tuổi. Lấy ngày sinh nhật làm Thánh Tiết, đổi niên hiệu 2 lần là : Gia Thái (6 năm) khởi đầu từ Quý Dậu (1573), Quang Hưng (22 năm) khởi đầu từ Mậu Dần (1578). Lập Hành tại ở sách Vạn Lại và dựng nền Nam giao cũng tại bên ngoài lũy của sách này. Năm Tân Mão (1591) Tiết Chế Trịnh Tráng (sau tôn làm Văn tổ Nghị Vương ) cả phá quân Mạc, truy thẳng đến thành Thăng Long, Mậu Hợp phải bỏ thành chạy trốn. Tháng 12 năm Nhâm Thìn (1592) bắt được Mậu Hợp chém đi. Tôn thất nhà Mạc là Kính Cung chạy vào giữ châu Văn Lan và ở đấy. Năm Quý Tỵ (1593), ngày 16 tháng 4 Đế về kinh, ngự vào chính điện. Năm Bính Thân (1596), triều Minh đưa công văn đến báo Đế phải ra cửa điện tham yết, tháng 4 năm Đinh Dậu (1597) Đế thân đến Trấn Nam Giao tiếp tướng Minh ở bên tả sông, giám sát phó sứ Trần Đôn Lâm châu Quảng Tây cùng với Phủ quan hội khám, xem cả trước sau và cởi áo nhìn nhận rồi người nhà Minh công nhận đó là cháu chắt Vua Lê Thái Tổ, họ tâu vua nhà Minh ban cho ấn vàng , vóc nhiễu hoa mỹ và phong làm An Nam Quốc Đại Đầu Mục. Tháng 7 năm Bính Thân (1596), sửa sang thành Thăng Long, làm nhà Thái miếu trong thành , ngày 17 rước thần chủ Vua Lê Thái Tổ vào thờ tại nhà Thái miếu. Tháng 12 năm Mậu Tuất (1598) nhà Minh phong cho Vua An Nam Đô Thống Sứ, ban cho ấn bạc. Vua đã dựng cung điện ở phía Tây Nam thành Thăng Long, phía bắc Thú kiều, Cẩm Ngọc Thiến, lại dựng phủ đường cho trăm quan, ra chính lệnh. Đến ngày 24 tháng 4 năm Kỷ Hợi (1599) Đế mất, ở ngôi 27 năm, thọ 33 tuổi. Mộ táng tại xã Đông Sơn, huyện Đông Sơn, là lăng Hoa Nhạc. Đế sinh được 2 trai 4 gái. Con trưởng là Duy Trì (phong Đạt Nhượng công, giỗ tháng Giêng, mẹ là Ngọc Sơn Uy Lê Thị Tuấn), con thứ là Duy Tân (tức Kính Tông). Gái trưởng là Ngọc Phượng (năm Quý Mùi (1583) mệnh An Định Vệ Quốc bá Đình Sở Nghi sinh), thứ là Ngọc Địch (năm Giáp Ngọ (?) mệnh Đôn Lộc, Chi Nê Lê Thị Tiên sinh), ba là Ngọc Đức (thân mẫu Kính Tông sinh), út là Ngọc Thơm (cùng mẹ với Duy Trì).
Kính Tông Huê Hoàng Đế (Thành Tổ Triết Vương tôn Lap):
Tên húy Duy Tân, con thứ 2 vua Thế Tông. Mẹ là Ý Đức hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Minh (giỗ ngày 12 tháng 10, táng tại Đông Sơn, lập điện Thuần Mỹ phụng sự), người ở Duy Tinh Thuần Lộc. Năm Mậu Tý (1588) ngày 27 tháng 7 sinh ra Vua. Lúc ấy Bình An Vương Trịnh Tùng cho là Thái tử Duy Trì không được thông minh bèn lập Đế; ngày 29 tháng 4 năm Kỷ Hợi (1599) Đế lên ngôi, mới có 12 tuổi. Đổi niên hiệu 2 lần là Thận Đức (1 năm, khởi đầu từ Canh Tý, 1600), Hoằng Định (20 năm, cũng bắt đầu từ năm ấy). Tháng 5 năm Thuận Đức nguyên niên Thái úy Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng mưu với Bình An Vương dẹp đám giặc ở Thái Nguyên là Kính Cung. Lúc ấy bọn Phan Ngạn Văn Khuê làm loạn, Hoàng bèn đốt hết dinh trại, lén về Thanh Hóa, nhưng trong xứ vẫn nhiễu nhương, ông bèn rước Vua về Thanh Hóa rồi hồi kinh ngự vào chính điện, có điềm rồng vàng. Tháng 3 năm Kỷ Mùi (1619), Bình An Vương đi đến Bến Đông, trở về đến chỗ ngã ba, có kẻ nấp bắn vào voi của ông. Truy bắt được người này, tra khảo thì y xưng là Vua cùng em là Trịnh Tùng[88] âm mưu để giết ông. Ngày 12 tháng 5 ông buộc Đế phải tự treo cổ (hiệu là Giản Huy Đế). Đế ở ngôi được 20 năm, thọ 31 tuổi. Mộ táng tại thôn Xá, Bố Vệ, lăng Hoa Man. Năm Đức Long thứ 4 (1632) truy tôn là Kính Tôn Hoàng Đế. Đế sinh 3 trai 2 gái. Trưởng là Duy Kỳ (tức Thần Tông), thứ Duy Hựu (phong Vân Lĩnh công, mẹ là Nguyễn Thị Vũ, người thôn Dưỡng Lộc, xã Lôi Dương, huyện Lôi Dương), út Duy Tá (phong Hán công, mẹ là Phỉ Thị Vi, người Thượng Phúc, Nhân Hiền). Con gái trưởng là Ngọc Tường (cùng mẹ với Thần Tông); con gái thứ 2 không ghi tên.
Thần Tông Uyên Hoàng Đế: Thành Tổ Triết Vương Lâp, Văn Tổ Huyên vương tôn phù
Tên húy Duy Kỳ (lại cũng húy là Đại), con trưởng vua Kính Tông. Mẹ là Đoan Từ Hoàng Thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trinh, tức là con gái thứ của Bình An Vương (giỗ ngày 24 tháng 4, mộ táng tại Động Lăng, Động Bàng sơn, núi Yên Định, lập Diễn An điện phụng thờ tại thôn Xuân). Năm Hoàng Định thứ 8 Đinh Mùi (1607), ngày 19 tháng 11, giờ Tỵ sinh ra Đế; ngày 2 tháng 6 năm Kỷ Mùi (1619) Đế lên ngôi tại lầu Cần Chánh, lấy ngày sinh làm Thọ Dương Thánh Tiết, đổi niên hiệu 3 lần là Vĩnh Tộ 11 năm, khởi nguyên năm Kỷ Mùi (1619), Long Đức, 7 năm, khởi nguyên năm Kỷ Tỵ (1629), Dương Hòa, 9 năm, khởi nguyên năm Ât Hợi (1635), ở ngôi được 25 năm, nhường ngôi 6 năm, trở lại ngôi 13 năm, đổi đổi niên hiệu 4 lần: Khánh Đức, 4 năm, khởi nguyên từ Canh Dần[89] (1650), Thịnh Đức, 6 năm, khởi nguyên từ Quý Tỵ (1653), Vĩnh Thọ, 5 năm, khời nguyên từ Mậu Tuất (1658), Vạn Khánh, 1 năm, năm đầu Nhâm Dần (1662). Năm Vạn Khánh nguyên niên, Đế vời Cối (?) vào Vương phủ, lập Thế Tử Tráng con Bình An Vương làm Đại Nguyên Soái giữ việc binh quyền (ban đầu phong Nguyên soái Tổng quốc chính Thanh Đô vương, truy phong Đại nguyên soái Tổng quốc chính Thanh Đô vương, truy tôn Văn Tổ Huyên vương) lấy Cối làm phó. Bấy giờ nhân Đế bị cảm mạo, Cối[90] đem quân của mình vào phủ nội, bức Đế phải rời ra khỏi thành và đốt kinh thành. Thế tử Tráng rước Vua và hội trăm quan tại chợ Nhân Mục, Bình An Vương ở quán Bạc, Hoàng Mai, dụ Cối đến sẽ giao cho quyền bính lớn. Khi Cối đến bèn giết đi. Triết Vương về đến quán Xuân huyện Thanh Oai cũng chết. Thế Tử Tráng đưa về làng mai táng. Nhân phù Đế đi đường tắt Kim Bảng bất ngờ đến Thanh Hoa để tính việc đánh dẹp. Mạc Kính Khoan lúc ấy cứ thủ Cao Bằng, nhân lúc Kinh thành bỏ trống tiến thẳng đến Thổ Khối, Gia Lâm. Tháng 8 Thanh Quốc Công Trịnh Tráng tiến quân đến đánh, Kính Khoan cả thua chạy trốn, bèn lệnh rước thánh giá về Kinh thành. Năm Quý Mùi (1643) Đế nhường ngôi cho Thái tử Duy Hựu, tôn Đế làm Thái Thượng hoàng, ở chùa Khán Sơn. Đế sinh được 4 trai, 6 gái và 2 con nuôi: trưởng Duy Hựu (tức Chân Tông), thứ Duy Vạn (tức Huyền Tông), ba Duy Cối (tức Gia Tông), út là Duy Hạp (tức Hy Tông); gái trưởng Ngọc Tình (gả cho Trịnh Nghiễm, mẹ họ Nguyễn, người Hà Thượng, Thuần Lộc), thứ Ngọc Hài (gả cho Trịnh Lương, mẹ họ Nguyễn, người Hiệp Khánh, Đan Phượng), ba Ngọc Điều (gả cho Trịnh Miên, sinh con trai là Tu, mẹ là Nguyễn Thị Vĩ, người Phù Chẩn, huyện Đông Ngàn), bốn Ngọc Lục (gả cho Vịnh Quân công, sinh con trai là Khiêm, mẹ là con gái Thái Bảo công Hồng), 5 Ngọc An (gả cho cháu Tây vương Vệ Quận công Trịnh Hài, mẹ là Nguyễn Thị Lãng, người xã Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì), người thứ 6 không ghi tên; hai con nuôi là Duy Lã, Duy Tào.
Chân Tông Thuân Hoàng Đế (Văn Tổ Huyên vương tôn lâp, Hoằng Tổ Dương Vương tôn phù:
Tên húy Duy Hựu, con trưởng Vua Thần Tông. Mẹ là Minh Thục Hoàng Thái Hậu Nguyễn Thị Ngọc Bạch, (có tài liệu viết giỗ ngày 17 tháng Giêng, táng tại bản xã, lập điện Hoàng Long thờ phụng), người ở sách Hoàng, huyện Gia Viễn. Năm Tân Mùi (1631) ngày 19 tháng 8 sinh ra Đế; ngày 13 tháng 10 năm Quý Mùi (1643) lên ngôi vua. Đổi niên hiệu 1 lần là Phúc Thái, 7 năm, khởi nguyên từ Quý Mùi (1643). Lúc này thiên hạ được mùa lớn. Năm Phúc Thái thứ 4, Nhà Minh phong Thái thượng hoàng làm An nam Quốc Vương, ngày 26 tháng 8 năm Kỷ Sửu (1649) Đế băng, không có con nối dõi, ở ngôi được 7 năm, thọ 20 tuổi. Mộ táng tại Hoa Phố lăng, thôn Phú Ngự, Bố Vệ. Tháng 10 năm ấy vua ủy cho Thế tử Tây vương Tạc và tôn lập Thái Thượng hoàng trở lại ngôi.
Thần Tông Uyên Hoàng Đế (Văn Tổ Huyên vương tôn lâp, Hoằng Tổ Dương vương tôn phù:
Năm Khánh Đức thứ 3 (1651), Đế đến Yên Ninh, sắc dụ vương nhân có binh sỹ voi ngựa tinh nhuệ tiến đánh Khôi Quách, lại phong cho Trịnh Tráng làm An Nam phó Quốc công. Tháng 9 năm Nhâm Thìn (1652) Đế ban đêm cảm thấy có bệnh ung thư, dụ Tây Vương (tên là Tạc, con trưởng Văn Tổ, ban đầu phong Nguyên soái Tổng quốc chính, Tây Định vương, tiến phong Nguyên soái chưởng quốc chính truy tôn Hoằng Tổ Dương vương) rằng, trước kia vì tông tộc chưa được nhiều, bàn lập người khác họ là Duy Tào (con nuôi) làm Thái Tử. Nay nhân nghĩ lại việc về sau, không dám phó thác cho người ngoài, vậy Tào nên truất làm thứ nhân và cho trở về họ mẹ. Lúc này Duy Vạn mới 9 tuổi đã dần trưởng thành, lại được vương (tức chúa Trịnh) phò tá, có thể thừa được mạng trời, bèn mệnh quần thần lập làm Hoàng Thái tử. Ngày 22 tháng 9 năm ấy Đế mất, thọ 56 tuổi. Mộ táng tại Quần Đội huyện Lôi Dương, tức lăng Quận Ngọc.
Huyền Tông Mục Hoàng Đế, Hoằng Tổ Dương ương tôn lâp :
Tên húy Duy Vạn, con thứ vua Thần Tôn. Mẹ là Đoan Thuần Hoàng Thái hậu Phạm Thị Ngọc Hậu (giỗ ngày 2 tháng 6, lăng táng ở bản xã), người ở Khỏa Nhuệ thượng, Lôi Dương. Năm Giáp Ngọ (1594), ngày 20 tháng 10 Đế sinh, đến năm Nhâm Dần (1662), ngày 11 tháng 11 lên ngôi vua. Lấy ngày sinh làm Đoan Minh Thánh Tiết. Đổi niên hiệu 1 lần là Cảnh Trị (9 năm) bắt đầu năm Nhâm Dần (1662). Tháng 2 năm Giáp Thìn (1664), Vua đặc cách cho phép Vương khi vào triều không phải lạy, không phải xưng tên, khi vào triều cho đặt giường bên trái cung điện cho vương ngồi.Tháng 12 Nhà Thanh sai sứ sang tế vua Thần Tông; năm Đinh Mùi (1667) nhà Thanh sai sứ sang phong cho Vua làm An Nam Quốc Vương. Đến năm Tân Hợi (1671), ngày 15 tháng 10, giờ Tỵ đế băng, không có con nối dõi. Ở ngôi được 9 năm, thọ 18 tuổi. Mộ táng tại Khoa Nhuệ Lôi Dương, lăng Quả Thịnh, lập Triều Long điện phụng thờ. Dâng tên thụy là Ý Đạt Nhuệ Thông, Cương Nghị Trung Chính, Ôn Nhu Hòa Lạc, Khâm Minh Văn Tư, Doãn Cung Khắc Nhượng, Mục Hoàng Đế. Miếu hiệu là “Huyền Tông”.
Gia Tông Mỹ Hoàng Đế :
Húy Duy Cối, con thứ 3 Vua Thần Tông. Mẹ là Chiêu Nghi Lê Thị Ngọc Hoàn, người ở Phúc Lộc, Thụy Nguyên (táng tại bản xã). Năm Tân Sửu (1601) ngày 4 tháng 4 giờ Hợi sinh Đế. Khi trước, Thần Tông mất, Vua mới lên 2 tuổi . Tây Vương phải sai bà chánh Trịnh Thị Lung đem vào trong cung nuôi dưỡng. Huyền tông mất mới lập lên làm vua, lên ngôi vào ngày 19 tháng 11 năm Tân Hợi (1671), bấygiờ Đế 11 tuổi lấy ngày sinh làm Thọ Dương Thánh Tiết. Đổi niên hiệu 2 lần là Dương Đức 3 năm, khởi nguyên năm Nhâm Tý (1672) và Đức Nguyên 3 năm, khởi nguyên Giáp Dần (1674). Ngày 3 tháng tư năm Đinh Tỵ (1677), giờ Mùi Đế băng, không có con, ở ngôi được 5 năm, thọ 15 tuổi. Mộ táng ở Phúc Lộc Lôi Dương, An Lăng. Dựng điện Thiên Ninh để phụng thờ, dâng tên thụy là: Khoan Minh Mần Đạt, Anh Quả Huy Nhu, Khắc Nhân Vi Nghĩa, Mỹ Hoàng Đế, Miếu hiệu là Gia Tông.
Hy Tông Chương Hoàng Đế :
Húy là Duy Hợp, con út Vua Thần Tông. Mẹ là Trịnh Thị Tấn (một tên khác là Diễn, cháu Dương Quốc công, con của Vũ hầu, ở bên ngoài. Tằng tổ tỉ là Thái phi tần, quê ở xã An Lạc, do bị cải giá nên không được tôn phong, trở về táng ở xã An Lạc, Hoàng Sinh, lập Vi Đông điện để phụng sự), người ở Đông Khối, Gia Định. Cảnh Trị năm đầu Quý Mão (1663), ngày 15 tháng 3 giờ Mùi sinh Đế. Khi xưa vua Thần Tông còn sống có dặn lại Tây Vương rằng: “Cung nhân Ngọc Tấn đã có mang được 4 tháng, chưa biết trai hay gái, vương hãy bảo hộ cho, rồi sinh ra Đế. Thể mạo rất kì vĩ, 9 tuổi, vương nuôi ở trong cung, đến ngày 12 tháng 6 nhuận năm Ất Mão (1675) vương đích thân phò Đế lên ngôi. Năm ấy Vua mới 10 tuổi, lấy ngày sinh nhật làm Thiên Minh Thánh Tiết. Đổi niên hiệu 2 lần: Vĩnh Trị (5 năm), khởi đầu từ Bính Thìn (1676) và Chính Hòa (26 năm), bắt đầu từ Canh Thân (1680). Năm Ất Dậu (1705) Đế nhường ngôi cho Thái tử Duy Đường và tôn Đế làm Thái Thượng hoàng. Ngày 15 tháng 4 năm Bính Thân (1716) Đế mất. Ở ngôi 31 năm, thọ 54 tuổi. Mộ táng tại lăng Phú Lâm, Đông Sơn. Đế sinh 15 con trai và 9 con gái.Trai trưởng là Duy Đường (tức Dụ Tông), thứ là Duy Liêu, ba là Duy Chân, bốn là Duy Đề, năm là Duy Hựu, sáu là Duy Lộc (mẹ là Nguyễn Thị Tích, người xã Phượng Lịch, huyện Thanh Oai), bảy là Duy Phúc (cùng mẹ với Duy Lộc), tám là Duy Kính, chín là Duy Phó, mười là Duy Triệu, mười một là Duy Tào (cùng mẹ với Duy Lộc), mười hai là Duy Thiệu, mười ba là Duy Trực, nười bốn là Duy Thạch, mười lăm là Duy Chúc (từ người thứ hai trở xuống đều phong tước Quận công). Con gái trưởng tặng Đệ nhất Thái trưởng Công chúa, thụy là Từ Trang, thứ hai là Ngọc Huệ (cùng mẹ với Duy Lộc), thứ ba là Ngọc Ân, thứ tư là Ngọc Tân, thứ năm là Ngọc Trục (cùng mẹ với Duy Lộc), thứ sáu là Ngọc Hân (cùng mẹ với Duy Lộc), thứ bảy là Ngọc Lai (cùng mẹ với Duy Lộc), thứ tám là Ngọc Thuyên, út là Ngọc Kiêm.
Dụ Tông Hòa Hoàng Đế, Chiêu Tổ Khang Vương tôn lâp, Hi Tổ Nhân Vương tôn phù
Húy Duy Đường, con Trưởng Vua Hy Tông. Mẹ là Ôn Từ Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Đệ (ngày 1 tháng 10 nhuận sinh, ngày 10 tháng 4 giỗ, lập Xung Quán điện tại bản xã phụng tự), người ở Xung Quán, huyện Đông Ngàn. Năm Chính Hòa (Canh Thân, 1680) ngày 8 tháng 10 giờ Sửu sinh ra Đế. Đến năm Ât Dậu (1705) được truyền ngôi, lấy ngày sinh làm Xuân Minh Thánh Tiết. Đổi niên hiệu 2 lần: Vĩnh Thịnh (16 năm), khởi nguyên từ Ât Dậu (1705) và Bảo Thái (10 năm), khởi nguyên từ Canh Tý (1720). Năm Kỷ Dậu (1729) truyền ngôi cho con đích là Duy Phường, tôn đế làm Thái Thượng hoàng. Ở ngôi vua được 25 năm, ngày 21 tháng Giêng năm Tân Hợi (1721) Đế băng, thọ 52 tuổi. Mộ táng tại Cổ Đô Đông Sơn, sau lại di táng tại lăng Kim Thạch, Lôi Dương (Long tòng, Bính Đinh chuyển Tốn, Tỵ mạch nhập thủ. Hướng Càn Tốn, Kim phân nội bàn, Đinh Tị Đinh Hợi, xuyến phùng châm, Canh Dần, Canh Tuất). Đế sinh 14 con trai và 12 con gái.Trai trưởng là Duy Tường (tức Thuần Tông), thứ là Duy Thiền, ba là Duy Hoãn (cùng mẹ với Thuần Tông), bốn là Duy Hựu (mẹ là Nguyễn Thị Đoan, người Tiên Bào, Nghi Xuân), năm là con đích Duy Phường (tức Hôn Đức công), sáu là Duy Hưởng (đi chơi sông Nhĩ Hà, chết đuối, mẹ là Lê Thị Dưỡng, người Phúc Lộc, Thụy Nguyên), bảy là Duy Chân (mẹ là Nguyễn Thị Tín, người Cộng Hoàng, Thanh Chương), tám là Duy Biểu (cùng mẹ với Duy Hựu), chín là Duy Phúc (cùng mẹ với Duy Hựu), mười là Duy Quy, mười một là Duy Chấn (tức Ý Tông), mười hai Duy Mật, mười ba Duy Tái, út là Duy Xán; gái trưởng là Ngọc Châu, thứ hai là Ngọc Tuân, thứ ba là Ngọc Chử, thứ tư là Ngọc Huệ (cùng mẹ với Thuần Tông), thứ năm là Ngọc Đào, thứ sáu là Ngọc Trong, thứ bảy là Ngọc Trinh (cùng mẹ với Duy Chân), thứ tám là Ngọc Vinh (cùng mẹ với Duy Phúc), chín là Ngọc Thọ (cùng mẹ với Duy Hữu), mười là Ngọc Thiệu, mười một là Ngọc Tòng (cùng mẹ với Ý Tông), mười hai là Ngọc Vịnh (mẹ là Trịnh Thị Ngọc Quyến, người Ngọc Sơ, Vĩnh Phúc).
Vinh Khánh Đế, Hy Tổ Nhân Vương tôn lâp.
Tên húy là Duy Phường, con đích vua Dụ Tông. Mẹ là Trịnh Thị Ngọc Trang (con gái Lương Mục Vương, con nuôi Định Vương). Năm Kỷ Sửu (1709), ngày 11 tháng 4 sinh ra Đế, ngày 16 tháng 11 năm Kỷ Dậu (1729) được truyền ngôi. Lấy ngày sinh làm Tường Thánh Tiết. Đổi niên hiệu 1 lần là Vĩnh Khánh (4 năm), khởi nguyên từ Kỷ Dậu (1729). Đến ngày 26 tháng 8 năm Nhâm Tý (1732) vì việc Bồ Lung phải phế làm Hôn Đức Công, ra ở ngoài, năm Kỷ Mão (1759, niên đại này chắc nhầm, chắc là Ất Mão, 1735), bị bắt thắt cổ chết tại bãi Cơ Xá. Ở ngôi được 4 năm, thọ 27 tuổi. Năm Canh Thân (1740) được chiêu hồn và táng tại Kim Lâu, Thanh Trì. Con phải quay về họ mẹ. Ông sinh được 2 con trai: con trưởng Duy Cơ (mẹ là Trịnh Thị Ngọc Tây, con gái của Định Vương), con thứ Duy Hiên.
Thuần Tôn Giản Hoàng Đế :
Tên húy là Duy Tường, con trưởng vua Dụ Tông. Mẹ là Trang từ Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Niệm (sinh ngày 18 tháng 4 năm Quý Mão, 1723, giỗ ngày 29 tháng 11, mộ tại Bố Vệ, lập điện thờ ở bản thôn để phụng sự), người xã Vĩnh Lộc, Sơn Minh. Năm Kỷ Mão (1669), ngày 15 tháng 2 sinh ra Đế. Đến năm Nhâm Tý (1732) ngày 26 tháng 8 lên ngôi vua. Lấy ngày sinh làm Xương Phù Thánh Tiết. Đổi niên hiệu 1 là Long Đức (được 4 năm, bắt đầu từ Nhâm Tí). Ngày 15 tháng 4 năm Ất Mão (1735) Đế mất. Ở ngôi vua được 4 năm, thọ 37 tuổi. Mộ táng tại thôn Bình Ngô, Chẩn Xuyên, Thụy Nguyên. Vua sinh 4 trai 4 gái. Trai trưởng là Duy Diêu (tức vua Hiển Tông), thứ là Tuân Quận công Duy Huy (cùng mẹ với Hiển Tông, các con ở dưới cũng vậy), ba là Duy Thiên, út là Duy Dung; Gái trưởng là Ngọc Lộng, thứ là Ngọc Tri, ba là Ngọc Tích, út là Ngọc Danh.
Ý Tông Huy Hoàng Đế :
Tên húy là Duy Chấn, con thứ 11 của Vua Dụ Tông. Mẹ là Hiến Từ Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Sắc (sinh ngày 16 tháng 10, năm Ất Mão, 1735 (có lẽ là Kỷ Mão, 1699); giỗ ngày 20 tháng 7, táng tại Phù Lê lăng ở Thụy Nguyên), người ở Mần Xá, Yên Phong. Năm Kỷ Hợi (1719), ngày 9 tháng 2 sinh ra Vua. Sau khi Vua Thuần Tôn mất, người kế tự chưa định nhờ có uy tín của Trịnh vương (Uy Vương) được tôn lên. Năm Ất Mão, 1735, ngày 27 tháng 4 lên ngôi vua. Lấy ngày sinh làm Xuân Hòa Thánh Tiết. Đổi niên hiệu 1 lần là Vĩnh Hựu (6 năm, năm đầu là Ất Mão). Năm Canh Thân (1740) Đế nhường ngôi cho cháu đích là Duy Diêu, tôn Đế làm Thái Thượng hoàng ở điện Càn Thọ. Ở ngôi vua được 6 năm. Đến ngày 8 tháng 6 nhuận năm Kỷ Mão, 1759. giờ Ngọ, Đế mất, thọ 41 tuổi. Mộ táng tại Thụy Nguyên,
lăng Phù Lê. Vua sinh 32 trai 15 gái. Trai trưởng: Duy Nghiên (Thiên), Duy Phác, Duy Trọng, Duy Kỳ, Duy Viện, Duy Bồng, Duy Thước, Duy Lựu, Duy Toại, Duy Liêu, Duy Khánh, Duy Đề, Duy Lễ, Duy Chiểu, Duy Tán, Duy Hoạt, Duy Nhưỡng, Duy Lộng, Duy Hổ, Duy Xứng, Duy Lãng, Duy Phán, Duy Đàm, Duy Hoàn, Duy Lượng, Duy Chất, Duy Sáng, Duy Chỉ, Duy Giới, Duy Thuyên, Duy Sào, Duy Nhuệ; Gái trưởng là Huệ Châu công chúa Ngọc Bích, Cẩn Phương Ngọc Nhu, Thụy Vân Ngọc Xuân, Dao Phương Ngọc Tây, Diệm Châu Ngọc Diêu, Lan Phương Ngọc Ngoạn, Du Phương Ngọc Dung, Thụy Phương Ngọc Trân, Liên Châu Ngọc Tuyền, Tính Phương Ngọc Tằng, Lan Châu Ngọc Anh, Khuê Anh Ngọc Ban, Viên Châu Ngọc Trai, Gia Anh Ngọc Bình, Ly Châu Ngọc Du.
Hiển Tông Vĩnh Hoàng Đế, Nghị Tổ Ân Vương tôn lâp :
Tên húy Duy Diêu, con trưởng vua Thuần Tông. Mẹ là Nhu Thận hoàng Thái hậu Đào Thị Ngọc Nhiễm (sinh ngày 11 tháng 3, năm Ât Mùi,1715, giỗ ngày 5 tháng 5, mộ táng tại Từ Liêm dịch, dời về Đông Mặc, An Định), người thôn Nhân Vực, xã Bảo Vực, Văn Giang (lại lập điện Bảo Hòa ở bản thôn để phụng tự). Năm Đinh Dậu (1717) ngày 10 tháng 4 giờ Ngọ sinh ra Đế. Đến năm Canh Thân (1740), ngày 21 tháng 5 được truyền ngôi. Bấy giờ Đế mới 14 tuổi, vì là dòng đích được trao quyền kế vị, lấy ngày sinh làm Thanh Hòa Thánh Tiết. Đổi niên hiệu 1 lần là Cảnh Hưng (47 năm), khởi đầu từ năm Canh Thân (1740). Xưa Vua còn nhỏ, bị họ Trịnh chuyên quyền, bắt giam. Hồng Quận Công nằm mộng thấy thần nhân bảo rằng “Hãy quét dọn nhà cửa cho sạch sẽ, ngày mai thiên tử đến nhà”. Sáng ngày mai quả thấy đem Vua đến giam tại nhà ông. Do đấy ông càng tôn trọng. Sau khi lên chính điện, Đế tăng thêm tước lộc cho ông. Năm Tân Dậu (1741) nhà Minh sai sứ sang phong cho Đế làm An Nam Quốc Vương. Năm Ât Sửu (1745) Thái tử Duy Vĩ bị Tĩnh Vương bắt thắt cổ chết và bắt giam cả 3 Hoàng tôn trong ngục, rồi lập người em thứ năm là Duy Cẩn làm Thái tử. Tĩnh Vương chết, di chúc cho các thân thần: “Bỏ con trưởng là Trịnh Tông mà lập Trịnh Cán”[91], do đó gây ra nạn Kiêu binh. Năm Nhân Dần (1782), ngày 25 tháng 10 ba quân ủng hộ ba hoàng tôn, rước về nội điện lập Hoàng trưởng Tư Khiêm làm cháu thừa tự, giáng Duy Cận làm Sùng Nhượng Công và phù Trịnh Tông làm Đoan Nam Vương. Năm Bính Ngọ (1786) ngày 26 tháng 6, Tây Sơn Nguyễn Huệ tiến quân vào kinh, diệt Trịnh phù Lê nhất thống, Đoan Nam Vương bị bắt, tự vẫn. Ngày 15 tháng 7 Đế ngự triều, nhất thống văn võ, trăm quan, quân dân đều hô “Vạn vạn tuế” liền ba tiếng. Đế bèn đem người con gái thứ 11 là Ngọc Tân gả cho Nguyễn Huệ. Đến ngày 17 Đế mất. Ở ngôi vua được 47 năm, thọ 70 tuổi. Mộ táng tại Thạch Bàn, Lôi Dương, sau di táng lên khoảng trên cũng lăng ấy, dâng tên thụy là: Uyên Ý Khâm Cung, Nhân Từ Đức Thọ, Cao Minh Hậu Bác,Tuấn Văn Ôn Doãn,Thuần Đạo Đạt Đức,Triệu Thống Xương Dậng, Thuế Huống Diên Hưu,Vĩnh Hoàng Đế. Miếu hiệu: Hiển Tông. Vua sinh 30 trai 23 gái.
Trai trưởng Duy Lưu (sinh ngày 7 tháng 8 năm Quý Hợi (1743), mẹ là Trinh Thuận Hoàng hậu Trần Thị Ngọc Câu, người Hà Xá, Lôi Dương, sinh 2 con trai, mất sớm, không có người nối dõi, gia phong Quận công, thờ tại điện Chí Kính;
Thứ 2 là Duy Vĩ, có tài liệu viết là Y, sinh ngày 1 tháng 2 năm Ât Sửu (1745), cùng mẹ với Duy Lưu. Tư Khiêm lên ngôi truy tôn là Hựu Tông Diễn Hoàng đế. Năm Ât Sửu (1745. Năm này chắc ghi nhầm) Tĩnh Vương vu cho thông dâm với thiếp của Ân chúa, bèn bắt thắt cổ chết. Sinh 3 trai, 3 gái. Trước đó chính phi của Ân chúa sinh 1 gái gả cho Thái tử làm phi. Tĩnh vương là con người thiếp của Ân chúa. Chính phi yêu trọng Thái tử, đến khi Ân chúa mất, Tĩnh Vương lập kế giết đi, giao cho Thiều Quận công đích thân thực hiện
Thứ 3 Duy Trình, sinh ngày 17 tháng 8 năm Ât Sửu (1745), mẹ là Doãn Chiêu Hoàng hậu Nguyễn Thị Diễm, người xã Đốc Tín, huyện Hoài An, sinh được 2 trai.
Thứ 4, Duy Dịch, sinh ngày 25 tháng 8 năm Bính Dần (1746), mẹ là Nguyễn Thị Đang, người An Lưu, Chân Phúc, sinh 1 trai 1 gái.
Thứ 5, Duy Cận, sinh ngày 16 tháng 9 năm Kỷ Tỵ (1749), mẹ là Nguyễn Thị Nhuyễn, người Hiến Phạm, Văn Giang, sinh 5 trai, 2 gái
Thứ 6, Duy Thụy, sinh ngày 12 tháng Giêng, năm Tân Mùi (1751), cùng mẹ với Duy Trình
Thứ 7, Duy Đề, sinh ngày 6 tháng 5 năm Nhâm Thân (1752), mẹ là Lê Thị Thịnh, người xã Phú Hào, Lôi Dương.
Thứ 8, Duy Trọng, sinh ngày 4 tháng 9 năm Nhâm Thân (1752), mẹ là Lê Thị Thanh, nghười Nghi Xá, sinh 3 trai
Thứ 9, Duy Thước, sinh ngày 13 tháng 12, năm Nhâm Thân (1752), cùng mẹ với Duy Cận.
Thứ 10, Duy Chư, sinh ngày 21 tháng 6 năm Quý Dậu (1753), cùng mẹ với Duy Đế.
Thứ 11, Duy Cư, sinh ngày 8 tháng 9 năm Giáp Tuất (1754), cùng mẹ với Duy Cẩn
Thứ 12, Duy An, sinh giờ Tý ngày 20 tháng 10 năm Giáp Tuất (1754), mẹ là Hoàng Thị Thiêm, người Hoàng Vân, Kim Động, sinh 2 trai. Sau năm Kỷ Dậu (1789) theo Chiêu Thống Đế vào Bắc quốc, năm Giáp Tý (1804) mới trở về bản quốc.
Thứ 13, Duy Phùng, sinh ngày 2 tháng 4 năm Bính Tý (1756), cùng mẹ với Duy Trình
Thứ 14, Duy Lữ, sinh ngày 29 tháng 4 năm Bính Tý (1756), cùng mẹ với Duy
Cẩn
Thứ 15, Duy Quyền, sinh ngày 3 tháng 8 năm Đinh Sửu (1757), cùng mẹ với Duy Trọng
Thứ 16, Duy Trâm, sinh ngày 4 tháng Giêng năm Mậu Dần (1758), mẹ là Trịnh Thị Ngân, người Chương Đức, sinh 3 trai
Thứ 17, Duy Hoàn, sinh ngày 29 tháng 5 năm Kỷ Mão (1759), cùng mẹ với Duy Trọng
Thứ 18, Duy Lộc, sinh ngày 6 tháng 10 năm Canh Thìn (1760), mẹ là Nguyễn Thị Hùng, người Vĩnh Lộc, Sơn Minh, sinh 2 trai 2 gái
Thứ 19, Duy Bút, sinh ngày 15 tháng 4 năm Tân Tỵ (1761), mẹ là người Định Công, Thanh Trì
Thứ 20, Duy Phúc, ...
Thứ 21, Duy Vũ, sinh ngày 5 tháng 8 năm Tân Tỵ (1761), mẹ là Nguyễn Thị Viên, người Xung Quán, Đông Ngàn, sinh 1 trai 1 gái
Thứ 22, Duy Lân, sinh ngày 11 tháng 11 năm Nhâm Ngọ (1762), cùng mẹ với Duy Vũ
Thứ 23, Duy Tấn, sinh ngày 20 tháng 4 năm Quý Mùi (1763), cùng mẹ với Duy Trâm
Thứ 24, Duy Hội, sinh ngày 11 tháng 11 năm Quý Mùi (1763), cùng mẹ với Duy Cẩn
Thứ 25, Duy Quán, sinh ngày 23 tháng 4 năm Giáp Thân (1764), mẹ là Nguyễn Thị Diệu, người Nguyễn Xá, Yên Viên
Thứ 26, Duy Thắng, sinh ngày 7 tháng 9 năm Ât Dậu (1765), cùng mẹ với Duy lộc
Thứ 27, Duy Sách, sinh ngày 21 tháng 9 năm Bính Tuất (1766)
Thứ 28, Duy Túc, sinh ngày 7 tháng 7 năm Kỷ Sửu (1769), mẹ là Nguyễn Thị Chí, người Vĩnh Lại, Sơn Minh
Thứ 29, Duy Vạn, sinh ngày 18 tháng 12 năm Tân Mão (1771), mẹ là Đào Thị Toại, người xã Vĩnh Khúc, huyện Thanh Oai, khởi binh diệt Tây Sơn bị Nguyễn Văn Tích giết
Thứ 30 (con út), Duy Kỷ, sinh ngày 13 tháng 12 năm Quý Mão (1783), mẹ là Nguyễn Thị Hương, người Đồng Hoàng, Thanh Oai
Trên đây là âm chữ 30 tên (hoàng tử): Lưu, Vĩ, Trình, Cẩn, Thụy, Đề, Trọng, Thước, Chư, Cư, An, Phùng, Lữ, Quyền, Trâm, Hoàn, Phúc, Bút, Vũ, Lân, Tấn, Hội, Quán, Thắng, Sách, Túc, Vạn, Kỷ.
Con gái:
  • Gái trưởng : Quỳnh Anh công chúa Ngọc Du sinh năm Quý Hợi (1743), mẹ là Đàm Thị Nhật, người Vĩnh Lại, Sơn Minh
-Thứ 2 Ngọc Anh, sinh năm Bính Dần (1746), mẹ Nguyễn Thị Khắc, người Văn Giang, Hiến Phạm, sinh 2 gái
  • Thứ 3, Ngọc Nhu, sinh năm Kỷ Tỵ (1749), cùng mẹ với Duy Dịch
  • Thứ 4, Ngọc Thiều, sinh năm Tân Mùi (1751), cùng mẹ với Duy Cẩn
  • Thứ 5, Ngọc Quỳnh, sinh năm Tân Mùi (1751), cùng mẹ với Ngọc Anh
  • Thứ 6, Ngọc Tuyên, sinh năm Nhâm Thân (1752), mẹ là Nguyễn Thị Phức, người xã An Phú, Văn Giang
  • Thứ 7, Ngọc Uyển sinh năm Quý Dậu (1753), cùng mẹ với Duy Trọng
  • Thứ 8, Ngọc Gia, sinh năm Quý Dậu (1753), mẹ là Nguyễn Thị Lan, người Lương Kiệt, Thiên Bản
  • Thứ 9, Ngọc Bạt, sinh năm Giáp Tuất (1754), mẹ là Cao Thị Toán (?), người Phú Thị, Gia Lâm
-Thứ 10, Ngọc Dao, sinh năm Ât Hợi (1755), cùng mẹ với Duy Đề
  • Thưa 11, Ngọc Tân, sinh năm Mậu Dần (1758), cùng mẹ với Duy Phúc
  • Thứ 12 Ngọc Nhiên, sinh năm Ât Mão (1735, chắc là Kỷ Mão, 1759?), cùng mẹ với Duy Lộc
-Thứ 13, Ngọc Nhiễm sinh năm canh Thìn (1760), cùng mẹ với Duy Trọng
  • Thứ 14, Ngọc Diễm, sinh năm Tân Tỵ (1761), mẹ là Nguyễn Thị Nương, người Hương Duệ, Kỳ Hoa
  • Thứ 15, Ngọc Trân, sinh năm Nhâm Ngọ (1762), cùng mẹ ới Duy Lộc
  • Thứ 16, Ngọc Loan, sinh năm Quý Mùi (1763), mẹ là Nguyễn Thị Thanh, em Nguyễn Thị Viên
  • Thứ 17, Ngọc Châu, sinh năm Quý Mùi (1763), mẹ là Nguyễn Thị Điền, , người Quang Biểu, Yên Việt, sinh 3 gái
  • Thứ 18, Ngọc Oánh, sinh năm Quý Mùi (1763), cùng mẹ với Duy Phúc
  • Thứ 19, Ngọc Huyên, sinh năm Ât dậu (1765), cùng mẹ với Ngọc Châu
  • Thứ 20, Ngọc Liễn, sinh năm Đinh Hợi (1767) cùng mẹ với Ngọc Châu - Thứ 21, Ngọc Hân, sinh năm Canh Dần (1770), mẹ là Nguyễn Thị Huyền, người Phù Ninh, huyện Đông Ngàn
  • Thứ 22, hiệu là Ngọc Uyên, sinh năm Giáp Ngọ (1774), mẹ là Nguyễn Thị Diệu, em Nguyễn Thị Nhuyễn.
  • Thứ 23 (út) Ngọc Bình, sinh năm Kỷ Tỵ (chắc là nhầm, có lẽ là Quý Tỵ, 1773 hoặc Ât Tỵ 1785?), mẹ là Nguyễn Thị Điêu, người Phù Ninh, Đông Ngàn.
Chiêu Thống Đế, Tây Sơn Nguyễn Huê tôn lâp, Hữu quân Bình Quân công tôn phù. Phụ chép
Nguyễn Huệ, kỷ nguyên Quang Trung, khởi từ Giáp Tuất (1754)
Vua húy là Tư Khiêm. Khi xưa con thứ Vua Hiển Tông là Duy Vĩ sinh được 3 con trai, con trưởng tức là đế vậy. Duy Vĩ sau được tôn làm Hựu Tông Diễn Hoàng Đế (giỗ ngày 20 tháng 12). Năm Bính Ngọ (1786) ngày 27 tháng 7 lên ngôi Vua (nguyên bản viết nhầm là sinh). Đổi niên hiệu 1 lần là Chiêu Thống, được 4 năm, bắt dầu từ năm Bính Ngọ. Năm Đinh Mùi (1787), Nguyễn Huệ tiến vào kinh thành, Vua đi sang Bắc Kinh, ngày 21 tháng 11 năm Mậu Thân (1788) đế viện quân bắc về kinh tiến đánh. Năm Kỷ Dậu (1789) ngày mồng 5 tháng giêng Nguyễn Huệ 3 lần tiến vào đánh kinh thành, quân Tàu tan vỡ, đế phải theo quân Tàu sang Bắc quốc. Lúc vua đi, theo Vua chỉ có người con thứ 12 của vua Hiển Tông là Duy An, cháu của Ý Tông là Duy Địch, người trong tông thuộc là Duy Trợ và bồi thần thị vệ độ hơn 300 người. Duy Địch, Duy Trợ và bồi thần thị vệ đi hẳn, còn trở về nước 71 người. Lúc này bề tôi Nguyễn Huệ hối lộ cho những quyền thần nước Tàu, họ dụ Vua kết tóc thay đổi y phục, trao cho chức Tả lĩnh. Vua nhầm chấp nhận, người đi với Vua đều theo cả. Sau có Trưởng phái hầu Lê Quýnh, Siêu lĩnh hầu Lê Trị, Tôn thất Trịnh Hiến, Trúng thức Quý Bỉnh Đạo không chịu kết tóc đổi y phục, bị giam vào ngục tối 11 năm. Lại còn cháu Vua Ý Tông là Duy Bác không có hy vọng trở về. Ngày 16 tháng 10 năm Quý Sửu (1793) vua mất. Vua ở ngôi được 4 năm, thọ 26 tuổi, tạm táng ở Bắc Kinh. Nhà Thanh phong cho người bản quốc kế tập chức vị cai quản. Triều đình ngày nay cử binh diệt Tây Sơn, năm Nhâm Tuất (1802), ngày 26 tháng 6, Nguyễn Toản (tức Quang Toản) bị thua. Ngày 21tháng 9 năm Giáp Tý (1804), Duy An đem vợ con trở về nước, đem theo cả quan tài Vua và Nguyên tử (Thái tử), Thái hậu; truy trả ơn phát tiền gạo cho những người trong tộc, trở về, táng tại Thạch Bàn Lôi Dương .
Vua sinh được 1 trai, 1 gái ( con trai là Tư Thuyên mất ở bên Tàu, người con gái tên là Ngọc cũng ở lại Tàu nhưng không có con nối dõi).
Lời bạt kí ngọc phả
Hoàng triều phấn tích từ Lam Sơn, sáng nghiệp rất gian nan, được nước rất chính đáng. Tìm trong các ghi chép cũng đều ước lược. Có thể xiển dương tổ đức, phô bày công xưa để tỏ rõ cho đến vô cùng, thực là có ý đợi ở ngày nay vậy.
Hoàng đế bệ hạ soạn thừa đại thống, kính theo phúc người xưa, trước ngự án thường có “quốc tập”, ngẫu nhiên tham cứu với dã sử, đặc biệt ủy cho bọn bề tôi là Nguyễn Hài, Trọng Viêm, Nguyễn Doãn, Xứng Huyền, {chúng thần}tự thẹn vu khoát thô thiển, sao đủ sức phát huy khuôn phép lớn. Nhưng đã vâng ngự chỉ, dám không chắp tay phát huy phúc lành để báo đền trong vạn nhất.
Phục nghĩ, Đế vương hưng nghiệp tất cần trồng cây đức đã sâu thì sau đó trời, đất và người đều giúp. Từng khảo việc quốc triều được thần kiếm mở nước, cờ rồng vàng “phi tượng” từ trời, “cây đèn ở núi Dầu Động Nghi” được ở đất, tướng sĩ một lòng, Man Liệu cống nạp được ở người, thực đã được giúp đỡ rất nhiều. Tích đức đã xa, tất được sự bồi đắp nắm giữ để có thể mở rộng sự yêu mến {của trời} mà có mệnh được tồn tại. Kính nghĩ Hoàng thượng vốn tính khiêm cung, tính tình nhân hậu, mệnh được sắc trời mà hội quy rất mực, hợp đức của đất mà được tuổi thọ vô cương, nhờ phò tá mà đạo người được lập. Sáu mươi sáu tuổi khỏe mạnh, bốn mươi năm hơn càng tăng hòa mục; tám nghìn năm vĩnh thừa cơ nghiệp tổ tông truyền lại. Đó chính là đức tốt mà có, cho nên nay tông tộc nối dài, lòng trung càng đốc, báo đáp cội nguồn, đức hậu càng thêm, muốn tăng thêm đức sáng hiển dương mưu lớn nơi tộc phổ. Vì thế có mệnh trùng tu {tộc phả}, hy vọng hiểu hết sự khó nhọc của các đời, để được nhiều triều đại tôn trọng cúng bái, phụng thờ. Kịp khi Sùng Cô ng mất, Thể Quận công thứ tám Duy Trọng phụng thờ.
Diên Tự Công :
Tên là Hoán.Khi xưa con thứ vua Hiển Tông là Duy Vỹ, lúc là Thái tử, bị vu hãm, sinh con út là Duy Chi; Chi sinh con trưởng tức là ông vậy.Năm Quý Hợi (1803) Triều đình hiện nay phong cho tướcquý là Diên Tự Công, lại cho 12 xã cùng ruộng các xã để thu thuế và cho lĩnh tiền kho, cùng tiền dân cộng 3000 quan để thờ phụng tại các đền đài tại kinh và tại Thanh Hoa.Còn thóc được 6000 hộc chu cấp cho những trai gái trong tộc chi dùng. Năm Giáp Tý (1804) tháng 6 lại khâm phụng sửa sang nhà Thái miếu ở Đông Kinh để thỉnh bài vị liệt thánh, cùng sửa sang cả điện Hoằng Đức ở Bố Vệ; lại cho con gái cả Vua Hiển Tông là Ngọc Dụ ký phần 90 hộc thóc và cấp tại Thanh Hoa.Đến năm Giáp Tuất (1814),Khải Quận Công là Duy Hoàn lại xin lĩnh lương ở công khố Bắc Thành. Ngày ... tháng 10 năm Bính Tý (1816) Duy Hoàn (con thứ 17 vua Hiển Tông) cùng Diên Quận Công (Duy Hoán) mưu đồ phục quốc, không giữ kín được,việc bị phát giác nên bị bắt giữ tại trấn Thanh Hoa. Đến con cháu mười hai đời nối dõi, không có sai sót, không thay đổi dẫn đến xã tắc phúc lành trường tồn, có cái gì là không phải chân tâm thực đức sung mãn rộng rãi chăng! Xin nguyện thánh kính ngày càng cao, đức nguyên ngày càng thịnh khiến cho con cháu được bảo hộ, không lười nhác, ấy là khuôn phép, ấy là kinh luân, cốt để tưới nhuần cho 26 đời con cháu không bị rơi rụng mưu đồ quý, để được dài lâu đến hơn trăm nghìn đời, từ 360 năm do sự gửi gắm của phúc lớn để lưu lại ức vạn năm hơn. Lấy đức để giữ, thì số có thể ghi hết được chăng? Ngự chế viết: “Ví đức như ngọc”, lớn lao thay lời dạy! Đó là phúc của thiên địa thần nhân. Bọn thần chỉ phụng sự lời kính cẩn, lại cố gắng gỏi, vì vậy làm bài kí.
Sùng Công :
Tên là Cận, là con thứ 5 Vua Hiển Tông.Năm Kỷ Dậu (1789), Nguyễn Huệ cấp cho làm dâncùng tước báu Giám quốc, tức là trưởng tộc phụng thờ các điện miếu ở Thanh Hoa. Sau thu hồi các dân chỉ còn có 12 xã tạo lệ kể cả Thanh Hoa. Tháng 4 lại đón ra tra vấn tại Bắc Thành,có làm biểu tâu lên. Tháng ấy có chiếu ban là “bản tộc vô can”.Đến năm Đinh Sửu (1817), ngày .. .tháng Giêng bản tộc phụng chiếu trở về kinh.Ngày 22 tháng 7 án xử tước ân ban tiền gạo lương bổng 1 năm.Đến năm Mậu Dần (1818),bản tộc lại đến kinh, có chiếu niêm yết cho mọi người biết lại theo như thánh lệ cấp phát và căn cứ vào các chi đều chọn bầu con Vua Hiển Tông làm Khải Quân Công. Tháng ba xuống chiếu giáng 1 cấp phong làm Khải Hựu hầu,là Cai cơ coi giữ đền thờ nhà Lê, đến tháng 9, thì ông mất, không có con.Năm Kỷ Mão (1819) lại có chiếu ban phải chọn chi phái vua Hiển Tông.Bản tộc lại cử con thứ 18 là Thản Quận CôngDuy Lộc và tằng tôn Duy Cát, là do Hoàng tử thứ 7 Duy Đế sinh. Tháng Ba có sắc phong cho Thản Quận CôngDuy Lộc làm Cai cơ giám thủ đền thờ của nhà Lê, sau được phong Thản Bình Hầu.
Trung Quân Công :
Tên húy là Duy Án,con thứ 12 vua Hiển Tông.Mẹ là Chiêu Nghi Hoàng Thị Thiêm (Quê xứ Sơn Nam thượng, nay là xã Hoàng Vân, huyện Kim Động, phủ Khoái Châu, Hưng Yên, dời sang thôn Trung Phú, xã Hiến Phạm, huyện Văn Giang, phủ Thuận An, Bắc Ninh. Năm Giáp Tý (1804), ngày 19 tháng 11, giờ Ngọ sinh; mất ngày 16 tháng 11 năm Ât Hợi (1815), thọ 82 tuổi, mộ táng tại xứ Cánh Nhạn, xã An Phú, Văn Giang. Sinh 2 con trai. Ban đầu cung tần may được phong là Đệ nhất thẩm quản hoa tần, dần dần sau được truy tặng thụy là Hoàng Quý thị, hiệu Diệu Nhu Nghiêm Minh).Ngày 22 tháng 10 năm Giáp Tuất (1814), giờ Tý sinh (?). Khi lớn lên ông được phong tước Công, ăn lộc xã Cao Đường, huyện Tiên Lữ, cai quản đội quân tùy hầu Cẩm Mađội và việc tế tự tại nội ngoại đường.Lấy vợ là Đàm Thị Đạc (Quê ở xã Phù Dương, huyện Phù Dung, phủ Khoái Châu, xứ Sơn Nam Thượng, thứ nữ huỳnh phái, ban đầu được phong tam đốc thượng trậtĐặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân Đô hiệu kiểm ty Tá hiệu, sinh ngày 5 tháng 5 năm Tân Mùi (1811), mất ngày 10 tháng 5 năm Ât Hợi (1875), thọ 65 tuổi, táng tại xứ Lộc Châu, xã An Phú, huyện Văn Giang, Bắc Ninh, sau truy tôn là Đàm Quý Thị, hiệu Từ Dung, thụy là Ôn Lương), mới sinh được 3 trai (Duy Tộ, Duy Khang, Duy Hy). Đến khi Vua Chiêu Thống lên ngôi, lại được cai quản Dũng Tả Đội ở Tôn lăng Thạch Bàn, được ăn lộc 5 xã.Cho đến năm Bính Ngọ (1786), không may Tây Sơn làm loạn, năm Kỷ Dậu (1789) ông (là chú Chiêu Thống) theo Chiêu Thống chạy sang Bắc quốc, Nhà Thanh dụ dỗ kết tóc đổi y phục.Năm Quý Sửu (1793) vua mất, nhà Thanh cho ông chức Tả Lĩnh Sứ (trật Tam phẩm) quản những nhân viên người bản quốc theo sang.Ông lại lấy vợ nữa là Đinh Thị Hảo (quê ở xã Hàm Giang, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng,Hải Dương, là con gái quan Lĩnh ấn trấn Hưng Hóa,năm Ât Hợi, 1815, được ban tòng vong), tại Bắc quốc, lại sinh được 2 trai (Duy Hựu, Duy Trinh). Đến năm Giáp Tý (1804), ông tâu với vua Tầu xin rước 3 quan tài Quốc quân, Thái hậu và Nguyên tử cùng những trai gái nhân viên theo sang trở về bản quốc và ân chuẩn ban quan tước tiền gạo theo cấp bậc. Ngày .. .tháng 2 năm Ât Sửu (1805) đến kinh Phú Xuân chiêm yết,được ban cho tiền gạo quần áo và mũ triều một chiếc, áo triều 1 bộ, lại xuống Dụ rằng:Bấy lâu giữ mình trong sạch xa lánh,nay mới trở về,nên được người trong họ cùng hưởng ân trạch,vậy chuẩn cho hàng năm gạo lương 130 phương.Còn con thứ 2 sinh tại Bắc quốc cho gạo lương hàng năm là 45 phương, lại được ban bạc nén 50 hốt, tiền hành lý 50 quan và chiếu cho ở kinh phụng sự.Năm Tân Mùi (1811),con thứ Duy Hựu tòng vong không may đoản mệnh, ông cũng “mệnh chung”khâm ban 2 cỗ áo quan cùng lụa là gấm vóc sung Biện Thị trung học sĩ Lai Sơn hầu, Đông các Đại học sĩ Dương Xuyên hầu đến tế; ban thụy 4 chữ vàng lớn là “Hoàng Việt cố Lê”,lại tiền cúng mỗi ngày 1 quan, vàng bạc hương đèn đầy đủ; ngày rằm mồng một ban thêm tiền 1 quan, nghi vật gấp đôi. Năm Nhâm Thân (1812), ngày, tháng 3 ban ngân tiền, gạo, văn võ quan quân hơn 100 viên, 3 thuyền cờ đenđưa linh cữu ra cửa biển (để về quê). Từ khi ra khỏi cửa biển, nhiều lần bị sóng gió, may nhờ trời giúp đều được bình yên. Tháng 4 vào Cửa biển Triều đến bến Thanh Hoa. Sau đó viên quan coi việc và trấn quan lại xuất tiền kho 150 quan,gạo 50 phương,và 100 trấn quân ăn mặc chỉnh tề hộ tống linh cữu về quê. Đến ngày lễ táng, trấn quan và các quan viên lo việc chô cất cùng đưa đến tận huyệt và làm lễ tế,dân coi đền Bố Vệ phục dịch cho đến khi an táng xong. Kính xét, ông (tức Duy Án) mất giờ Thân, ngày 13 tháng 10 năm Tân Mùi (1811),thọ 58 tuổi, tên tự là Đốc Thực tên thụy là Đôn Hòa, ngày 19 tháng 4 năm Nhân Thân (1812) đem về táng tại tại xứ Cửa Mả, thôn Tĩnh Xá,hương Bố Vệ, huyện Đông Sơn, xứ Thanh Hoa. Hướng đất Quý-Tý-Nhâm chuyển Hợi-Canh-Tân, long nhập thủ, tạo Khôn hướng Cấn, kiêm Tân Mùi Tân Sửu, nước phóng xuống phương Ất. Việc tống táng xong,rước thần chủ về phường Hòe Nhai, thành Thăng Long phụng sự. Khi ông từ Bắc về, bản triều (Triều Nguyễn) có ban tặng chiếu sắc và ấn Ngọc tỷ Tiểu Long, nhưng không còn gì cả. Ông sinh sinh được các con dưới đây: ( Bản triều ban lương hàng năm 45 phương gạo) Con trưởng Duy Tộ (sinh ngày 1 tháng 6 năm Tân Mùi,1811, lấy Đỗ Thị Quán người An Phú, huyện Văn Giang, Bắc Ninh, sinh 1 trai 3 gái. Trưởng nam là Duy Xã, trưởng nữ là Thị Nhĩ, thứ nữ là Xán, út là Lan); con thứ Duy khang (sinh ngày 28 tháng 8 năm Mậu Tuất (1838), vợ là Nguyễn Thị Loan, người Nguyễn Xá, huyện Yên Phong sinh 4 trai 3 gái. Trưởng là Duy Nhân, Thứ là Duy Thân, ba là Duy [Sưởng], út là Duy Tắc; trưởng nữ Thị Thai, thứ Thị Lai, út Thị Hài); ba là Duy Hy (sinh ngày 11 tháng 6 năm Canh Tý,1840, vợ là Nguyễn Thị Ngọn, người thôn Vũ Xá, xã Nhật [], Huyện Cẩm Giàng, Hải Dương, sinh 2 trai là Duy Thì và Duy Pháp; sau lấy vợ lẽ, sinh trai là Duy Ti, gái là Thị Nhị); bốn là Duy Hựu (sinh ngày 27 tháng 11 năm Ất Mão, 1855, mất ngày 11 tháng 10 năm Tân Mùi, 1871, thọ 17 tuổi, ở kinh đô Phú Xuân. Lần ấy bản triều ban gấm đoạn lụa là, theo cha về táng tại xứ Thanh Hoa, không có con); thứ 5 là Duy Trinh (sinh ngày 23 tháng 67 năm Canh Thân, 1860, mất ngày 29 tháng 4 năm Tân Sửu, 1901), và con út Duy Dĩnh (sinh ngày 9 tháng 8 năm Đinh Mão, 1867, mất ngày 16 tháng 10 năm Mậu Dần, 1878, táng tại xứ Đầu Chợ xã An Phú huyện Văn Giang, tự là Anh Minh, thụy là Tốn Nhượng.
Chép về sấm ký :
Khi xưa tại làng Diên Uẩn, có cây gạo bị sét đánh, người làng nhận ra có câu sấm văn rằng :
Thụ căn yểu yểu,
Mộc biểu thanh thanh,
Hòa đao mộc lạc,
Thập bát tử thành,
Đông A nhập địa,
Dị mộc tái vinh,
Chấn cung xuất nhật,
Đoài cung ẩn tinh,
Lục thất niên gian,
Thiên hạ thái bình
[Giải nghĩa] Thụ căn yểu yểu, căn là gốc, gốc cũng như là vua vậy; liểu § đồng âm với yểu ở đây chép là yểu; mộc biểu thanh thanh, biểu là ngọn, ngọn cũng giống như là bề tôi. Thanhtinh w âm đọc gần giống; chữ thanh (sau) nên viết là tinh, tức là tốt tươi; hòa đao mộc lạc là chữ Lê thập bát tử thành, là chữ Lý Đông A là nhà Trần 1^, nhập địa là giặc phương Bắc vào cướp; dị mộc tái sinh là họ Lê lại sinh; chấn cung xuất nhật, chấn ^94 là phương Đông, mặt trời mọc tức là sinh Thiên tử; đoài cung ẩn tinh, đoài ỳl 'bi phương Tây, ẩn là mất, tinh là thứ dân. Đây ý nói khoảng 6,7 năm trong thiên hạ thái bình.
Vậy lại có câu sấm như sau :
Đỗ Dịch[92] [93] [94] sát Đinh Đinh,
Lê gia xuất thánh minh,
Cạnh đầu đa hoành thỏ (hoặc quỷ) ,
Đạo lộ tuyệt nhân hành.
Dịch là:
Đỗ Dịch giết hai người họ Đinh,
Nhà Lê xuất hiện vua thánh[95]
Nhiều kẻ đầu xỏ, giặc dã tranh cạnh nhau Trên đường không có bóng người đi.
Chú thích thêm: Ở dưới cùng có bản đồ họa ngôi đất “Phượng Hoàng Tôn Lăng”. Đất để tọa Khôn hướng Cấn Đó là ngôi mộ có 1 thầy Tăng để cho khi Vua Lê Lợi chưa khởi nghĩa, là mộ cụ thân sinh ra Vua Lê Lợi đã có nói đến ở đoạn trên và ngôi đất này đã có lần quân Minh đào đem đi, song bọn thuyền chài họ lấy trộm lại được và đem táng lại như cũ. Ngôi đất là kiểu đất đế vương, khi táng ông thầy có nói, về sau nếu biết chữa lại thời còn trung dung đế nghiệp được 500 năm nữa.
Hà Nội, mùa xuân Canh Tý 2020
Người dịch
ThS Lê Thị Hà
ThS Dương Văn Hoàn
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây